Laura Kiesel khi mới lên 6 đã phải thay cha mẹ chăm sóc cho cậu em trai mới sinh. Khi đó, cậu em được đặt trong nôi sát giường của Laura, nên mỗi khi đứa bé cất tiếng khóc, Laura sẽ là người đầu tiên bế ẵm em và hát ru em ngủ. Cô bé khi đó cũng phải làm công việc thay tã cho em và cho em ăn đủ bữa.
Hầu hết quãng thời thơ ấu của Laura theo những gì cô còn nhớ được, thì cô phải chăm sóc cho em trai trong khi bà mẹ của hai chị em đang ngập chìm trong cơn nghiện ma túy. Bên cạnh đó, cô cũng phải tự lo cho bản thân, tự chuẩn bị đồ ăn, quần áo, tự chơi một mình. Ở trường, cô là một đứa trẻ buồn bã và thường bị cô lập vì tóc tai luôn rối bù và bẩn thỉu.
Giờ đây, khi đã trở thành một nhà văn tự do, ở tuổi 38, Laura nhắc lại những ngày thơ ấu đầy đau buồn, khi người mẹ nghiện ngập lúc nào cũng sẵn sàng trút cơn giận dữ lên đầu đứa con gái của bà, “tôi trở thành thứ để mẹ tôi trút giận thay vì trút giận lên em trai tôi”.
Trở thành người chịu trách nhiệm cho một đứa trẻ sơ sinh ở tuổi còn nhỏ như vậy thường phải đi kèm với một cái giá khá đắt. Laura kể “đôi khi tôi la hét em trai tôi hoặc xô đẩy hoặc đánh mạnh vào tay nó, vì một con bé mới 8 tuổi như tôi lúc đó thực sự cảm thấy quá tải và không biết xử lý làm sao với tiếng hét của một đứa trẻ 2 tuổi.”
Mãi cho đến khi Laura lên 9 và em trai cô lên 3 tuổi, hai chị em mới được đưa về sống với ông bà. Nhưng những ký ức về quãng thời gian trước đó thì vẫn luôn ở trong tâm trí không thể nào phai. Cho đến khi Kiesel 14 tuổi, cô nói cô thường bị hoảng loạn, hội chứng OCD – rối loạn ám ảnh cưỡng chế và trầm cảm. Và cô bắt đầu nhận ra có sự liên hệ giữa những trải nghiệm thời thơ ấu và những căn bệnh mãn tính sau này.
Câu chuyện của Kiesel là một trong những câu chuyện mà các chuyên gia tâm lý gọi là một dạng bị lạm dụng cảm xúc khi đứa trẻ trở thành người chăm sóc cho cha mẹ hoặc các em.
Sự thay đổi vai trò này có thể gây ra một vết sẹo tâm lý khắc sâu cho đến tuổi trưởng thành. Nhiều người khác, cũng giống trường hợp của Kiesel, đã bị những cơn lo âu, trầm cảm và rối loạn tâm lý. Những nghiên cứu khác còn cho thấy có liên quan đến chứng rối loạn trong ăn uống và nghiện ma túy.
Có rất nhiều nghiên cứu tập trung vào chuyện trẻ bị cha mẹ bỏ mặc, thì rất ít nghiên cứu tìm hiểu xem chuyện bỏ mặc này khiến trẻ trở thành người chăm sóc như thế nào, và tác động của nó đến những mối quan hệ - giữa anh chị em trong gia đình và với người ngoài – ra sao, vì trong môi trường gia đình thiếu vắng tình thương như vậy thì chắc chắn sẽ tác động đến các mối quan hệ giữa các anh chị em trong nhà.
Như trong chuyện của Kiesel, cô nói việc chăm em khi còn bé đã khiến mối quan hệ của hai chị em trở nên ít gắn kết và thậm chí rối loạn trong nhiều năm. Mặc dù hiện tại họ đã thân thiết với nhau, nhưng đã có những khoảng thời gian hai chị em không nói chuyện với nhau hàng tháng trời.
“Em trai tôi thường xuyên đứng trên bờ vực của sự khủng hoảng, khủng hoảng sức khỏe do nghiện rượu, vô gia cư…, nên sự lo lắng của tôi chẳng bao giờ dứt.”
Câu chuyện của Rene, trong suốt thời gian từ khi lên 8 tuổi cho đến khi rời nhà vào năm 15 tuổi, bà phải đón ba đứa em ở trường, đón về nhà, cho ăn và tắm cho các em, đọc truyện cho chúng và dỗ chúng ngủ.
Giờ đây, khi đã ở tuổi 50 và là chủ tịch Oregon, bà vẫn nhớ phải đứng lên ghế để có thể nấu ăn cho cả nhà. Nhưng thay vì thất đó là gánh nặng trách nhiệm, bà cho rằng đó là một vai trò mà bà trân trọng “tôi có những ký ức rất đẹp, nhất là khi đọc truyện cho các em mỗi tối trước khi ngủ.”
Mẹ của Rene cũng là một người nghiện rượu và bà phó mặc cho 5 đứa con của bà tự chăm sóc nhau. Rene cùng người anh trai lớn đã phải thay phiên nhau chăm các em.
Rene trở thành người vô gia cư khi bà bị đẩy ra khỏi nhà lúc mới 15 tuổi. Bà nói các em vẫn cho rằng bà bỏ chúng. Trong nhiều năm sau đó, bà vẫn ám ảnh bởi cảm giác tội lỗi, một cảm giác thường thấy ở những người phải thay cha mẹ chăm nom các em như Rene.
Những sang chấn tâm lý ở thời thơ ấu thường để lại hậu quả lâu dài. Nghiên cứu cho thấy những đứa trẻ có thời thơ ấu không hạnh phúc thường bị rối loạn sức khỏe tâm thần, khiến người ta có triệu chứng giống như khi bị áp lực nặng nề.
Một nghiên cứu khác cũng nhận thấy những trẻ chịu áp lực thường xuyên sẽ tiết ra một loại hormone làm co kích thước của vùng não bộ xử lý trí nhớ, cảm xúc và quản lý áp lực.
Jordan Rosenfeld, một tác giả 43 tuổi ở California, đã cho rằng chứng khó tiêu của bà có liên quan đến những chuyện xảy ra thời thơ ấu. Khi đó mẹ của bà đang kiệt quệ trong những cơn nghiện thuốc, có nhiều lúc bà không có gì để ăn. Khi bỏ nhà ra đi năm 18 tuổi, bà bắt đầu bị đau bao tử sau khi ăn.
Khi lớn lên, Rosenfeld nhận thấy rất khó để kiểm soát cảm xúc khi đói. “Khi tôi ra ngoài với bạn và chúng tôi không thể chọn được một nhà hàng, và tôi đói, lúc đó tôi thực sự ngã gục. Và tôi có thể nói rằng đó là do tôi không được cho ăn lúc nhỏ.”
Rosenfeld nhớ lại bà phải nhắc mẹ mua thức ăn, hoặc phải gọi mẹ dậy để đưa bà đi học đúng giờ. “Tôi phải tự chăm sóc cho bản thân mình”. Chính vì điều này bà thường không tin tưởng người khác và tự làm lấy mọi việc, và bà thường cho rằng mọi người xung quanh nghĩ rằng việc giúp đỡ, chăm sóc, cho lời khuyên là việc bà phải làm, và không cần phải hỏi.
Cảm giác trách nhiệm này có thể theo người ta đến những mối quan hệ tương lai. Như Rosenfeld, bà nhận ra giai đoạn đầu của cuộc hôn nhân, bà luôn đặt nhu cầu của người bạn đời lên trước nhu cầu của chính bà.
Tương tự, Kiesel nói cô phải khó khăn để học cách thiết lập những ranh giới rõ ràng với người bạn trai. Còn Rene, bà nói việc phải cân bằng giữa sự kỳ vọng và độc đoán luôn là vấn đề trong các mối quan hệ, bà muốn có người yêu nhưng lại luôn nghi ngờ.
Dù có những hậu quả liên quan đến chuyện trở thành người chăm sóc chính khi còn nhỏ, các nhà nghiên cứu nói điều đó cũng đem lại một số lợi ích sau này, chẳng hạn người đó sẽ có tính bền bỉ và tự làm việc hiệu quả.
Thêm thông tin và cập nhật Like SBS Vietnamese Facebook
Nghe SBS Radio bằng tiếng Việt mỗi tối lúc 7pm tại sbs.com.au/vietnamese

