Hiện vẫn còn những lá thơ trao đổi giữa Tổng Toàn Quyền Sir John Kerr và Nữ Hoàng Anh trước khi chính phủ Gough Whitlam bị bãi nhiệm vào năm 1975 chưa được công bố.
Trong ba năm qua Sử gia, Giáo sư Jenny Hocking, tác giả hồi ký của cố Thủ tướng Gough Whitlam, đã kiện Văn khố Quốc gia để được đọc những lá thơ này, và nội vụ đang được Tối Cao Pháp Viện xem xét.
Giáo sư Hocking: Những lá thư này hiện nằm trong Văn khố Quốc gia và được xem là những lá thư riêng giữa cựu Tổng toàn quyền John Kerr và Nữ hoàng trao đổi với nhau trong thời điển trước khi xãy ra vụ bãi nhiệm chính phủ Whitlam. Những lá thư này vì vậy không được xem tài liệu của chính phủ liên bang cho nên không được công bố sau 30 năm theo luật định. Cách duy nhất để đọc những lá thư này là phải kiện Văn khố Quốc gia ra tòa và đó là điều chúng tôi đã làm cách đây 3 năm rồi. Ban đầu chúng tôi kiện ra tòa án liên bang nhưng thất bại, chúng tôi kháng cáo nhưng lại thất bại. Bây giờ chúng tôi đưa lên tối Cao Pháp viện.
ABC: Sao bà biết được là trong Văn khố Quốc gia đó những lá thư này?
Giáo sư Hocking: Mọi người đều biết tổng toàn quyền thường xuyên trao đổi thư từ với mẫu quốc cho nên không có gì là bí mật cả. Những lá thư đó không nằm trong thư mục của Văn khố Quốc gia. Tuy vậy tôi lại tìm thấy bản sao của chúng trong Văn khố Quốc. Nhưng tôi muốn xem những lá thư khác do con gái của bà góa phụ của Sir John đưa cho Văn khố Quốc gia. Câu chuyện khá phức tạp nhưng vì biết chúng hiện hữu cho nên chúng tôi mới yêu cầu được xem. Và cách đây 2 tuần chúng tôi còn biết thêm là vào lúc đó Sir John cũng đã liên lạc với thư ký riêng của Nữ hoàng nữa. Như vậy có rất nhiều tài liệu chứng tỏ mối liên hệ giữa Tổng toàn quyền và Điện Buckingham vẫn còn được giữ bí mật.
ABC: Văn khố Quốc gia giải thích đó là thư riêng, nhưng bà tin rằng chúng tiết lộ những gì thật sự đã xảy ra trước khi chính phủ Whitlam bị bãi nhiệm?
Giáo sư Hocking: Chúng tôi biết đôi chút về chuyện này qua hồi ký của Sir John và những văn kiện khác trong quá trình kiện Văn khố Quốc gia. Chủ yếu là Tổng toàn quyền báo cáo lại với Điện Buckingham những gì ông trao đổi với Thủ tướng trước khi dẫn đến quyết định bãi nhiệm. Bên trong còn chuyện gì khác được trao đổi thì chỉ đến khi đọc được những lá đó chúng ta mới biết được. Nhưng chúng tôi biết Sir John viết rất nhiều thơ cho Điện Buckingham, đôi khi 4 lá thơ trong một ngày. Rõ ràng là cách Sir John giải quyết vấn đề, ông đã thông báo ý định của ông cho nhiều người hơn là chúng ta biết, ví dụ chúng tôi biết ông cũng viết thơ cho cựu Bộ trưởng Tư pháp Sir Anthony Mason, một Chánh án của Tối cao pháp viện vào giai đoạn đó. Tất cả đều được giữ bí mật trong bối cảnh những gì thật sự xảy ra trong vụ bãi nhiệm chính phủ đó cũng là một bí mật. Đó chính là lý do là công chúng cần đọc được những lá thơ đó càng sớm càng tốt.
ABC: Tại sao bà nghĩ điều đó quan trọng?
Giáo sư Hocking: Nó quan trọng về mặt lịch sử để chúng ta có thể hiểu chuyện gì đã xảy ra. Bãi nhiệm một chính phủ dân cử là chuyện chưa từng xảy ra trước. Nó đã gây ra nhiều biến động về mặt chính trị và xã hội vào lúc đó. Chưa kể là bây giờ chúng ta mới biết chuyện đó đã được thực hiện trong bí mật, thủ tướng không biết gì, và công chúng Úc không biết gì, và vẫn được giữ trong bí mật trong suốt mấy chục năm qua. Lịch sử của biến cố đó vẫn trong bóng tối. Tất cả cho thấy vô cùng quan trọng để tìm biết giai đoạn lịch sử đó, chúng ta cần biết rõ lịch sử của chúng ta. Và cách duy nhất để biết là phải đọc được những lá thư gởi cho Điện Buckingham.
ABC: Nếu Tối cao pháp viện không chấp nhận kháng cáo của bà thì bước kế tiếp là gì?
Giáo sư Hocking: Nếu chúng tôi không kháng cáo được thì đó chỉ mới là kết thúc con đường pháp lý thôi, chứng chiến dịch đòi công bố những bức thư đó sẽ vẫn tiếp tục. Không bằng con đường pháp lý nữa mà bằng cách gây sức ép chính trị, hành động dân sự. Có nhiều quan ngại trong việc tiếp cận những hồ sơ mật của chính phủ, quan ngại về sự minh bạch, và trách nhiệm của chính phủ. Tôi hy vọng rằng chiến dịch này sẽ được tiếp tục. Thủ tướng có thể sẽ tham gia kêu gọi Nữ hoàng công bố những lá thư mà công chúng cần phải biết.




