Sau 17 năm sống tại Adelaide, nơi hai người con trai đều đã trở thành công dân Úc, ông Phạm Ngọc Tuyến và bà Lê Thị Xuân Vinh vẫn chưa thể chính thức gọi Úc là nhà. Một tai nạn kinh hoàng cùng hành trình kéo dài qua nhiều loại visa đã đẩy hai vợ chồng ông, hiện 68 và 72 tuổi, đối mặt với yêu cầu của Bộ Nội vụ phải rời Úc trước ngày 1 tháng 9 năm 2026. Liệu hoàn cảnh hôm nay chỉ bắt nguồn từ những lựa chọn của gia đình ông Tuyến, hay chính hệ thống di trú đã khiến họ trở thành những “tạm cư thường trực” bất đắc dĩ suốt gần hai thập niên qua?
Mười bảy năm gọi Adelaide là nhà
Khi đưa vợ và hai con đến Nam Úc năm 2008, ông Phạm Ngọc Tuyến tin rằng gia đình đang bước vào một xã hội nơi mà những nỗ lực của họ đều sẽ được ghi nhận.
"Tôi tự hào nhất ở nước Úc là vì tôi được sống trong một đất nước nó công bằng, nó văn minh, nó tôn trọng cái quyền của con người và tôn trọng ý kiến của người dân. Đó cũng là lý do mà tôi đưa gia đình đến nước Úc, để mà các con tôi được học tập, để mà được phát triển, có tương lai."
Ông Tuyến và bà Vinh đến Adelaide ngày 30 tháng 10 năm 2008 theo diện visa chủ doanh nghiệp được Tiểu bang bảo lãnh tạm thời (subclass 163). Theo như kế hoạch ban đầu, hai ông bà sẽ xây dựng một doanh nghiệp xuất nhập khẩu hàng hóa giữa Úc và Việt Nam, rồi dần dần đáp ứng đủ điều kiện để xin thường trú nhân theo diện chủ doanh nghiệp subclass 892.
Trong suốt khoảng thời gian ban đầu, hai người con của ông bà cố gắng học tập rồi xây dựng sự nghiệp tại Úc. Daniel Pham, người con trai út, hiện là công dân Úc và làm kỹ sư trong ngành khai khoáng. Anh cũng đã lập gia đình và có hai con nhỏ. Ông Tuyến chia sẻ:
"[...] Bây giờ thì các cháu đã trưởng thành, đã ổn định trong cuộc sống thì chúng tôi đã có thêm được các cháu nội. Thì cái niềm mong ước của tôi là được ở lại Adelaide để mà chung vui trong cuộc sống với các cháu và được các cháu chăm sóc cũng như là chăm sóc cho các con cùa các cháu. Đó là cái niềm vui của tuổi già chúng tôi ở đây sau 17 năm."

Không chỉ vun vén cho gia đình tại Úc trong vai trò ông bà nội, ông Tuyến và bà Vinh còn tích cực tham gia sinh hoạt tại Cộng đồng Công giáo Việt nam ở Adelaide. Trong nhiều năm, ông bà thường xuyên đóng góp, hỗ trợ cộng đồng và tham gia các hoạt động thiện nguyện.

Khi tưởng như đã có thể an tâm tận hưởng cuộc sống bên con cháu và cộng đồng gắn bó suốt gần 2 thập niên, cuộc sống ổn định của ông bà hóa ra chỉ là tạm thời.
Ông Tuyến và bà Vinh được yêu cầu rời Úc trước ngày 1 tháng 9 năm 2026.
Tai nạn kinh hoàng dẫn đến mê cung visa
Quay trở lại những ngày đầu tiên, hồ sơ doanh nghiệp của ông bà được hình thành sau bốn năm đến Úc. Công ty Pacific Australia General Import & Export Pty Ltd được thành lập vào tháng 5 năm 2012.
Tuy nhiên, vào tháng 8 cùng năm, trong một chuyến đi tìm hiểu sản phẩm tại vùng nông thôn Nam Úc, chiếc xe chở ông bà đã bị nước lũ cuốn đi và lật ngược.
Đó là một trải nghiệm hết sức đáng sợ với ông bà.
Cái tai nạn đó xảy ra phải nói nếu mà ngồi mà kể lại thì phải nói là nó quá kinh hoàng. [...] Giờ phút này bác ngồi đây được cũng là nhờ ân trên, chứ trong thời gian mà bị tai nạn, thì đến 5 tiếng đồng hồ sau mới được giải cứu.
"[...] Bác đang đi tìm hiểu sản phẩm thì đi về bão gặp nước lũ nó tràn xuống, nó cuốn lật xe thì hai bác phải ngồi lên trên xe lất hết 4 bánh là nó trôi vào trong cái dòng – cái nước để mà cái kênh đó là nó dẫn ra biển." Ông Tuyến chia sẻ: "Khi đưa vào cấp cứu, thì bác sĩ nói nếu mà chỉ cần thêm vài tiếng nữa thì hai bác không còn sống nữa, không còn cơ hội để sống nữa. Vì trời thì lạnh mà mùa đông mà nước thì nó đang dâng lên thì lại mưa nữa."
Gia đình cho biết, những chấn thương thể chất và tâm lý sau tai nạn khiến ông bà không thể tiếp tục kế hoạch kinh doanh như dự định. Ông Tuyến sau đó trải qua cuộc đại phẫu tim và được gắn máy tạo nhịp tim:
"Hai bác đều phải đi điều trị tâm lý khủng hoảng tinh thần hết mấy năm. Nhưng mà đến giờ phút này khi mà ngồi nhắc lại cái đó, bác vẫn rất sợ. Sợ lắm, rất là sợ. Mà mỗi lần khi đi ra nhìn sông nhìn biển nước thì bác rất là sợ."
Tai nạn đã làm đảo lộn hoàn toàn kế hoạch định cư ban đầu của gia đình. Theo tư vấn của một luật sư di trú, ông bà lần lượt nộp đơn và ở lại Úc bằng các visa Điều trị Y tế cho đến tháng 5 năm 2018. Tiếp đó, một hồ sơ xin visa Bảo vệ được nộp nhưng cuối cùng bị từ chối vào tháng 4 năm 2023.
Mặc dù chuỗi hồ sơ này giúp kéo dài thời gian cư trú hợp pháp tại Úc, về bản chất, đây đều không phải những lộ trình có khả năng dẫn đến thường trú.
Trao đổi với SBS Tiếng Việt, luật sư hiện tại của gia đình, ông Simon Jeans, cho rằng các đại diện di trú trước đây đã không theo đuổi một hướng giải quyết pháp lý “đáng lẽ cần được thực hiện” sau quyết định của Tòa Tài phán Hành chính năm 2017. Giải thích trong email gửi tới SBS Tiếng Việt, ông Jeans cho rằng vào thời điểm đó, hoàn cảnh của gia đình có thể được đưa ra đề nghị Bộ trưởng can thiệp theo các hướng dẫn đang có hiệu lực:
"Theo hướng dẫn can thiệp của Bộ trưởng trước ngày 17 tháng 9 năm 2025, hồ sơ của họ có cơ sở rất vững chắc. Các hướng dẫn khi đó nhấn mạnh những yếu tố như thời gian cư trú, hoàn cảnh nhân đạo ảnh hưởng đến công dân Úc, di trú tay nghề, tuổi tác và sức khỏe."
"Kể từ tháng 9 năm 2025, các hướng dẫn mới đã loại bỏ toàn bộ những yếu tố này. Trọng tâm hiện nay chủ yếu là di trú tay nghề. Một số nhóm trường hợp khác cũng được xác định, nhưng hiếm khi dẫn đến kết quả thực tế."
Tuy nhiên, gia đình ông Tuyến cho biết họ không được thông báo về lựa chọn này. Thay vào đó, ông bà tiếp tục làm theo tư vấn của các đại diện di trú khác, lần lượt theo đuổi các visa tạm thời và nộp đơn xin visa Bảo vệ - những hồ sơ mà ông Jeans nhận định vốn không có triển vọng mang lại kết quả định cư lâu dài.
Đến tháng 9 năm 2025, hướng dẫn can thiệp của Bộ trưởng được sửa đổi, loại bỏ nhiều yếu tố từng có lợi cho hoàn cảnh của gia đình, khiến con đường định cư gần như khép lại. Simon cho biết:
"Những thay đổi này không hỗ trợ những người lao động bị thương, dù tai nạn xảy ra tại nơi làm việc hay ở nơi khác. Chúng cũng không giúp ích cho những bậc cha mẹ lớn tuổi như gia đình ông Phạm, dù họ đã sống tại Úc nhiều năm và có con, cháu ở đây. Các hướng dẫn này cũng không hỗ trợ những công dân Úc cần được chăm sóc trong trường hợp người phối ngẫu của họ không thể ở lại Úc và phải chờ nhiều năm tại một quốc gia khác mới có thể quay trở lại."
Tôi đang gặp ngày càng nhiều trường hợp bất công tương tự như gia đình ông Phạm.
Ông Tuyến thừa nhận gia đình đã phụ thuộc lớn vào những người tư vấn di trú.
"Thì thực sự lúc đó bác không có rành. Bác thì là dân kinh doanh chứ bác không phải dân làm mấy cái này nên là bác không có rành cái điều kiện, thủ tục của các loại visa như thế nào. Bác gặp luật sư, bác gặp đại diện di trú thì họ nói làm sao bác nghe thôi."
Ngoài ra, rào cản ngôn ngữ cũng là một bất lợi lớn trong việc xử lý hồ sơ của gia đình. Gia đình đã phải chuyển trên 4 lần luật sư vì cảm giác không yên tâm.
"[...] Bác thì nhờ luật sư ở Úc nhưng mà tiếng Anh của bác mỗi lần vô vậy bác thấy nó rất là bất tiện. Tại vì bác phải mỗi lần đi lên gặp luật sư là phải mời phiên dịch, là phải mời phiên dịch đi theo. [...] Mà có những cái thì bác nói như trình bày với cháu nhưng mà khi mà họ dịch lại thì họ không có-- tiếng Anh với tiếng Việt nó khác, nó không có sát nghĩa để mà có thể nói cho người ta hiểu được cái ý của c hú bác. Bác không giỏi tiếng Anh nhưng mà bác nghe thì bác có thể hiểu được là họ nói không, chưa có phải đúng cái ý của bác muốn nói. Bác nói tiếng Việt thì họ hiểu nhưng mà khi họ qua tiếng Anh thì do cái khả năng tiếng Anh của họ, nó có một số cái từ chuyên môn đó họ nói được. Do đó bác cứ phải thay đổi luật sư. Tại vì bác thấy ví dụ không được, không yên tâm, có phải không được. Bác cảm thấy nó không yên tâm cái thì bác lại đổi luật sư khác."
Trong khi đó, Daniel cho biết anh cũng không tham gia sâu vào hồ sơ trong những năm đầu vì khi đó anh mới 17 tuổi, còn đi học. Chỉ những năm gần đây, các con mới can dự nhiều hơn.
Tiến sĩ Hiền Nguyễn, nhà nghiên cứu tại Đại học Edith Cowan, cho rằng sự bế tắc của gia đình thường không xuất phát từ bản thân người giữ visa.
Cả 3 bên đều có cái phần gây ra những cái khó khăn cho người di cư bây giờ. Chính sách thì quá phức tạp, Người đi tìm định cư thì lại thiếu hiểu biết và không biết tìm nguồn thông tin ở đâu phù hợp hoặc không biết nhiều nguồn thông tin độc lập để mà so sánh hoặc không tự tìm hiểu. Còn bên các đại diện di trú thì họ cũng chỉ làm việc dựa trên kinh nghiệm. Tôi không nói là tất cả.
Những tạm cư thường trực bất đắc dĩ: khi sự bất định trở thành thị trường
Gia đình ông Tuyến bà Vinh là trường hợp điển hình của những “tạm cư thường trực”, một khái niệm mô tả những người có cuộc sống thực tế kéo dài ở Úc, nhưng địa vị pháp lý chỉ được nối tiếp bằng những visa có thời hạn.
Theo bản phác thảo Chiến lược Di trú của Bộ Nội vụ, khoảng 173.000 người đã sống tại Úc từ năm năm trở lên bằng những visa tạm thời. Cuộc Rà soát Hệ thống Di trú năm 2023 cũng ước tính, có khoảng 2,2 triệu người giữ visa tạm thời vào cuối tháng 10 năm 2022, đồng thời thừa nhận sự hình thành của một tầng lớp “permanently temporary” những người tạm trú gần như thường xuyên. Báo cáo cho rằng các thiết lập chính sách đã vô tình tạo điều kiện cho nhóm này hình thành và gây tổn hại khi người di cư ngày càng gắn bó với Úc nhưng không có lộ trình rõ ràng.
Đối với người lớn tuổi, sự bất định còn gắn với sức khỏe, khả năng tự chủ và câu hỏi ai sẽ chăm sóc họ nếu phải rời nơi con cháu đang sinh sống. Tiến sĩ Hiền Nguyễn chia sẻ.
Cái mà họ lo lắng nhất đấy chính là cái cảm giác không an toàn và cảm giác bất định khi phải ở một cái đất nước mà họ thật sự muốn ở và muốn thuộc về. Nhưng mà họ không có cách nào để mà ổn định cuộc sống của họ được, đặc biệt là người lớn tuổi
Cần nhấn mạnh rằng không phải mọi lời khuyên về visa ngắn hạn đều không phù hợp. Trong một số trường hợp, đây có thể là lựa chọn hợp pháp duy nhất giúp người nộp đơn duy trì tình trạng cư trú trong lúc chờ quyết định hoặc ứng phó với những biến cố ngoài dự tính.
Tuy nhiên, rủi ro xuất hiện khi một giải pháp chỉ nhằm “mua thêm thời gian” lại được hiểu như bước đệm chắc chắn để tiến tới thường trú, dù trên thực tế không mở ra một lộ trình định cư khả thi.
Theo Giáo sư Lan Anh Hoàng từ Đại học Melbourne, khát vọng được ở lại - đặc biệt khi người nộp đơn trong tình trạng dễ bị tổn thương - có thể tạo ra sự chênh lệch về thông tin và quyền quyết định giữa khách hàng với người tư vấn.
"Khi mà mình khao khát muốn ở lại nhưng mình lại không đáp ứng được những yêu cầu để cho những visa dài hạn thì mình buộc phải nghe lời trung gian. Và trong cái tâm trạng lo lắng và sốt ruột đó thì rất dễ mà nghe theo lời khuyên của đại diện di trú là tạm thời xin một cái visa ngắn hạn nào đó để giống như là mình mua thời gian."
Với bảy năm nghiên cứu về người nhập cư tại Úc, Giáo sư Lan Anh cho rằng tâm lý lo âu và mong muốn được ở lại của người nộp đơn đã góp phần thúc đẩy một thị trường tư vấn di trú ưu tiên số lượng giao dịch lên trên chất lượng của những lời tư vấn.
Về những cái bên môi giới ấy, gọi là trung gian về di cư và du học thì họ càng làm nhiều hồ sơ thì họ càng có lợi. Bởi vì cái kết quả của việc xin visa thì nó không thuộc cái mức phí họ thu và cái thành công về tài chính của họ, nó không phụ thuộc vào kết quả của hồ sơ xin visa của khách hàng mà nó phụ thuộc vào là số lượng hồ sơ. Ví dụ như là họ càng xin được nhiều visa ngắn hạn cho mình thì họ càng có lợi.
Khả năng giám sát thị trường từ chính phủ cũng là một vấn đề. Cuộc điều tra của Văn phòng Kiểm toán Quốc gia Úc cho biết, cơ quan quản lý đã nhận được 299 khiếu nại liên quan đến khoảng 243 đại diện di trú trong giai đoạn năm 2022-2023. Chỉ 26 khiếu nại, tương đương 9% được xử lý bằng các quyền hạn chế tài theo luật. Không chỉ thế, tính đến tháng 3 năm 2024, 66 đại diện đang đăng ký đã nhận ít nhất 10 khiếu nại nhưng chưa bị xử phạt.
Chia sẻ về vấn đề này, Giáo sư Lan Anh cho biết chính sách quản lý các đại diện di trú hiện tại còn nhiều khúc mắc.
"Quản lý nhà nước của chính phủ Úc đối với các đại diện di trú thì thực ra rất là lỏng lẻo. [...] Thì mặc dù là có những quy định tưởng chừng như rất là chặt chẽ, ví dụ như là quy định về việc là phải có bằng cấp như thế nào này, rồi là được chính phủ cấp giấy phép được hoạt động với tư cách đại diện di trú như thế nào. Nhưng mà thực chất thì rất nhiều người hoạt động không có giấy phép. Bởi vì là bạn chỉ cần có giấy phép đại diện di trú nếu như bạn là người thay mặt thân chủ nộp hồ sơ lên trang web của chính phủ Úc thôi. Chứ nếu bạn tư vấn bên ngoài và thân chủ của bạn tự nộp cái hồ sơ đó thì bạn không cần giấy phép. Và rất nhiều người hoạt động theo cái phương thức này. Bởi vì là, ví dụ như môi giới về hôn nhân chẳng hạn, hay là tư vấn về các dòng visa thì mọi người hoàn toàn có thể tư vấn bên ngoài và thậm chí có thể ngồi cùng thân chủ của mình để nộp cái hồ sơ đó. Nhưng mà về mặt gọi là chính danh thì các đại diện này không đứng ra nộp hồ sơ. Đó, thế nên là quản lý nhà nước nó chỉ cũng có chừng mực thôi."
Chính vì thế nên là mọi người - những người mà không đáp ứng được những cái nhu cầu của visa thường trú của chính phủ Úc và tiếng Anh thì cũng không giỏi, phải dựa rất nhiều vào các đại diện di trú này. Và vì các đại diện di trú thì họ, à, thu tiền theo các bước. Ví dụ như là khi bắt đầu nộp hồ sơ thì thu bao nhiêu phần trăm của cái hợp đồng đó, rồi đến giai đoạn, à, bổ sung thêm giấy tờ thì lại thu thêm bao nhiêu. Nên họ cũng không cần quan tâm đến kết quả. Bởi vì là thành hay bại thì không ảnh hưởng gì đến họ vì họ đã thu tiền theo các bước rồi.
Nên là nảy sinh ra một cái tình trạng là cái thị trường di trú nó khá là hỗn loạn. Và chính phủ Úc thì thực ra là cũng gần như buông lỏng. Bởi vì là cuối cùng thì chính phủ cũng không thiệt hại gì, mà thiệt hại là về phía những người đã tìm-- đang tìm con đường để thành thường trú nhân ở Úc thôi.
Đề nghị Bộ trưởng can thiệp nhưng không nhận được câu trả lời
Trở lại với câu chuyện của ông bà Tuyến, Vinh, Luật sư Simon Jeans cho biết ông đã nộp đề nghị can thiệp theo điều 351 của Luật Di trú vào ngày 24 tháng 4 năm 2026. Đề nghị của luật sư yêu cầu cấp visa thường trú hoặc thay thế bằng visa du lịch cho gia đình ông bà từ đó có thể cho phép ông bà nộp một hồ sơ cha mẹ cao tuổi có đóng góp từ trong nước Úc.
Thư phản hồi có chữ ký của Trợ lý Bộ trưởng Di trú Matt Thistlethwaite cho biết đề nghị gần nhất không đáp ứng các tiêu chí trong Hướng dẫn của Bộ trưởng. Thư cũng nhấn mạnh quyền can thiệp của Bộ trưởng là quyền không bắt buộc: Bộ trưởng không có nghĩa vụ xem xét hoặc sử dụng quyền này trong mọi trường hợp.
Gia đình cho rằng vì hồ sơ không vượt qua tiêu chí chuyển tiếp, các tình tiết nhân đạo của họ đã không được Bộ trưởng trực tiếp cân nhắc.
Ngoài ra, Bộ Nội vụ Úc từ chối bình luận về trường hợp cụ thể của gia đình ông Phạm và không trả lời các câu hỏi của SBS về việc đơn đề nghị của họ có được chuyển lên hoặc được một Bộ trưởng đích thân xem xét hay không.
Nếu phải về Việt Nam và xin visa cha mẹ từ ngoài Úc, thời gian chờ có thể vượt quá phần đời còn lại của ông bà. Bộ Nội vụ hiện ước tính khoảng 15 năm đối với visa cha mẹ có đóng góp và 33 năm đối với visa cha mẹ hoặc cha mẹ cao tuổi thông thường.
Cho đến bây giờ, khi các lộ trình pháp lý dần khép lại, gia đình chuyển sang vận động công khai. Gia đình đã nhận được các lá thư ủng hộ từ nghị sĩ Hội đồng Lập pháp Nam Úc Tung Ngo, Thị trưởng Thành phố Charles Sturt Angela Evans, nghị sĩ bang Joe Szakacs và các linh mục Công giáo Việt Nam.
Tính đến ngày 28 tháng 8, kiến nghị kêu gọi trực tuyến mà Daniel thành lập đã có 906 chữ ký ủng hộ từ cộng động.
Cha mẹ của Daniel cho biết:
Ước nguyện của bác đó là muốn được ở lại đây để mà ở gần con cháu. Để mà bác có thể được gần gũi với các cháu. Đó là ước nguyện cuối đời của bác.
Phần "Transcript" do Trí tuệ Nhân tạo AI tạo ra. Đọc thêm về việc SBS sử dụng AI: https://www.sbs.com.au/aboutus/sbs-guiding-principles-for-use-of-ai/
Truy cập sbs.com.au/vietnamese để cập nhật tin tức, các câu chuyện cộng đồng, và podcast mới nhất.
Nghe SBS Tiếng Việt mọi lúc trên ứng dụng SBS Audio, tải về từ App Store hay Google Play.
Theo dõi SBS Vietnamese trên Facebook, Instagram và YouTube để khám phá thêm.






