Watch FIFA World Cup 2026™

LIVE, FREE and EXCLUSIVE

Khoa học hàng tuần (Bài 67)

Các nhà khoa học Anh biến đểi gen con người

Các nhà khoa học Anh biến đểi gen con người Source: AAP

Tin tức cập nhật về virus Zika tại Úc, các nhà khoa học Anh được phép xử dụng gen trong phôi thai của con người để nghiên cứu, vì sao rệp kháng lại thuốc sát trùng và ăn rau quả nhiều có thể cải thiện đời sống sinh lý.


Published

Updated

By Greg Dyett

Source: SBS



Share this with family and friends


Tin tức cập nhật về virus Zika tại Úc, các nhà khoa học Anh được phép xử dụng gen trong phôi thai của con người để nghiên cứu, vì sao rệp kháng lại thuốc sát trùng và ăn rau quả nhiều có thể cải thiện đời sống sinh lý.


*Tin tức cập nhật về virus Zika

Trường hợp đầu tiên nhiễm visrus Zika tại Mỹ, được báo cáo ở tiểu bang Texas.

Giới chức y tế địa phương cho biết, vụ nầy lây nhiểm qua đường tình dục, chứ không do muỗi cắn.

Tại Úc, có hai người được chẩn đoán với virus, sau khi trở về từ vùng Caribbean.

Được biết Tổ chức Y tế thế giới WHO đã tuyên bố tình trạng khẩn cấp đối với dịch bệnh, và cho rằng virus có thể gây các trường hợp trẻ em bị di dạng khi chào đời, với triệu chứng đầu nhỏ tại Brazil và virus có thể lan truyền nhanh chóng tại Mỹ châu, ảnh hưởng đến 4 triệu người.

Được biết loại virus nầy cho đến nay chưa có thuốc chủng ngừa và thường lây lan do loại muỗi chích.

Chúng tôi đã có bài nói về loại virus nầy, khi phỏng vấn bác sĩ Liêu vĩnh Bình, khi loại virus nẩy mới khởi phát.

*Các nhà khoa học tại Anh quốc đã được phép xử dụng gen trong phôi thai của con người.

Họ tin rằng, cuộc nghiên cứu có thể cuối cùng tìm ra cách thức ngăn tránh các bệnh tật, thế nhưng những người khác lại cho biết, kỷ thuật nói trên có thể dẫn đến việc tạo ra các bé sơ sinh, được gọi là theo kiểu mẫu trước.

Các khoa học gia tại Viện Francis Crick ở Luân đôn, hiện nay có thể xử dụng kỷ thuật phân tích gen, trong bào thai của con người.

Kỹ thuật nầy có thể giúp cho họ tìm ra và bổ sung, hoặc thay thể các khiếm khuyết trong gen.

Đây là ứng dụng đầu tiên nhắm vào việc chữa trị các chứng hiếm muộn.

Giáo sư Robin Lovell Badge là cố vấn khoa học cho cơ quan phụ trách về sinh sản, vốn chấp thuận cuộc nghiên cứu.

"Đây là lần đầu tiên một kế hoạch như thế nầy, đã được một cơ quan toàn quốc về sinh sản chấp thuận".

"Đó là điều thực sự quan trọng cho sự hiểu biết về sinh học căn bản, đối với phôi nhau tiên khởi của con người".

"Nó có mọi ích lợi tiềm tàng về mặt lâm sàng, liên quan đến việc thụ thai trong ống nghiệm, và tránh được những trường hợp xảy thai".

"Hy vọng chúng ta sẽ có thể lấy đi các gen gây bệnh và cho vào loại gen có thể ngăn chận bệnh tật, hay có thể tạo sự miễn nhiễm cho các loại bệnh". Giáo sư John Harris thuộc đại học Manchester.

Một phụ nữ là bà Emma Benjamin, hoan nghênh hành động nói trên, sau khi bà đã xẩy thai 4 lần chỉ trong một năm.

"Tôi cảm thấy thất vọng và chưa bao giờ có những câu trả lời là tại sao tôi cứ xẩy thai mãi".

"Vì vậy nếu cuộc nghiên cứu nầy diễn ra sớm hơn, nó có thể giúp tôi có câu trả lời và tôi đoán chừng, nó có thể bớt đi những tình trạng đau lòng".

Còn giáo sư John Harris thuộc đại học Manchester nói rằng, kỷ thuật nói trên có thể hủy bỏ các gen bị hư hỏng và các gen mới có thể được cài vào nhiễm sắc thể con người, với độ chính xác rất cao.

Ông cho biết, các lợi ích tiềm tàng có thể rất đáng kể và phát triển ra ngoài lãnh vực cải thiện sinh sản.

"Tiếp tục chiều hướng nghiên cứu, nếu chúng ta theo đuổi việc nầy và hiểu biết về kỷ thuật, cuối cùng chúng ta có thể xử dụng chúng trong con người".

"Hy vọng chúng ta sẽ có thể lấy đi các gen gây bệnh và cho vào loại gen có thể ngăn chận bệnh tật, hay có thể tạo sự miễn nhiễm cho các loại bệnh".

Các thí nghiệm sẽ diễn ra trên phôi thai, trong vòng 7 ngày sau khi thụ thai.

Việc nghiên cứu xử dụng phôi thai được hiến tặng, mới được một ngày tuổi, vốn được tạo thành trong ống nghiệm, thế nhưng đã không cần đến nữa.

Điều nầy sẽ bất hợp pháp đối với các phôi thai thí nghiệm, được đặt vào cơ thể người phụ nữ.

Thế nhưng các nhà chỉ trích cho rằng, cuộc nghiên cứu mở ra cánh cửa để tạo thành những bé sơ sinh, được gọi là theo kiểu mẫu.

Người đứng đầu của cơ quan theo dõi vấn đề đạo đức trong việc nghiên cứu về gen, có tên là Human Genetics Alert, tạm dịch là Báo động về Gen con Người, là bác sĩ David King.

"Tôi không có vấn đề gì với cuộc nghiên cứu đặc biệt nầy cả".

"Chúng tôi không phải là một nhóm ủng hộ sự sống, vì vậy đó không phải là sự hủy bỏ phôi thai".

"Thế nhưng tôi quan ngại đây là bước đầu tiên trong một tiến trình đã được hoạch định, hướng đến việc tạo nên các bé sơ sinh có gen đã biến đổi".

Vừa rồi là tường thuật của Greg Dyett của SBS.

*Rận trở nên kháng lại hầu hết những loại thuốc sát trùng.

Các cuộc nghiên cứu mới cho thấy, các con rận ở Mỹ trở nên kháng lại hầu hết những loại thuốc sát trùng trên thế giới. Họ tìm thấy chúng có mức độ miễn nhiễm rất cao đối với các liều lượng thông thường của hoá chất, thường là chất neonicotinoids.

Quí vị đừng để cho rệp cắn. Đó là một câu thành ngữ chúng ta đã nghe trước đây, thế nhưng cuộc nghiên cứu mới cho thấy, loại côn trùng nầy có thể không dễ gì tránh khỏi.

Cuộc nghiên cứu mới của các nhà côn trùng học Mỹ cho thấy, loài rận đã phát triển việc kháng lại chất  neonicotinoids, một trong những hoá chất được biết để diệt các loại côn trùng.

Giáo sư Stephen Dogget, là chuyên viên duy nhất về rận tại Úc, giải thích vì sao ông nghĩ rằng  tính kháng thuốc của rận, đã phát triển một cách đáng kể .

"Có nhiều lý do vì sao rận có thể phát triển việc kháng lại nhóm thuốc trừ sâu được gọi là neonicotinoids".

"Chúng tôi nghi ngờ chúng phát triển việc kháng thuốc đối với các loại thuốc sát trùng khác".

"Ngày nay, cái từ kháng thuốc hết sức phức tạp,khi nó gồm một loạt các dang khác nhau".

"Không có hình thức đơn giản của việc kháng thuốc mà là hình thức phức tạp của việc nầy".

"Khi chúng ta có một hình thức kháng thuốc đặc biệt, được xác định đối với toàn thể các loại thuốc sát trùng".

Vào thập niên 1960, côn trùng phát triển việc kháng lại thuốc DDT, nay đã bị cấm xử dụng do độc chất của nó.

Kế tiếp là loại pyrethroids và cuối cùng các nhà khoa học pha trộn một hỗn hợp neoniconinoids với pyrethroids để chống lại chúng, cho đến nay vẫn hữu hiệu.

May thay, rận không lan truyền các virus hay bệnh tật, mà chỉ để lại một dấu cắn khó chịu và ngứa ngáy.

Sinh viên Elle Rudd mô tả kinh nghiệm với rận rệp.

"Nó đau ít nhưng ngứa lắm, giống như một cơn ngứa ngáy cháy bỏng, dù cho bạn gải cách mấy cũng vậy, nó chẳng hết ngay và cứ ngứa âm ỉ như ở dưới da khiến quí vị không thể chịu được, nó khiến quí vị như điên lên".

Cuộc nghiên cứu tại Mỹ bắt đầu vào năm 2012 tại Michigan và Cincinnati, tìm thấy rận kháng lại 4 thứ thuốc trừ sâu khác nhau.

"Chúng ta cần việc kiểm soát côn trùng thích hợp, cần xử dụng liều lượng các phương tiện không có hoá chất một cách thích ứng và vài hợp chất hữu cơ như chất silicus được xử dụng rộng rãi và rất quan trọng cho mọi người biết được cách thức tốt nhất trong việc kiểm soát". Giáo sư Stephen Dogget, chuyên viên duy nhất về rận tại Úc.

Phải cần 10 ngàn nanograms để giết chết một nhóm rệp loại mới mà 30 năm trước chỉ cần có 0.3 nanogram mà thôi.

Các nhà nghiên cứu nói rằng, các phương pháp không xử dụng hóa chất nên được tìm ra.

Tại Úc, nơi người ta đã từng chứng kiến các trận dịch rệp, cách thức tốt nhát là xử dụng một hỗn hợp sức nóng và thuốc trừ sâu đã được phát triển.

Giám đốc công ty Accomodation Association là ông Richard Munro, mô tả phương pháp áp dụng.

"Không may rận rệp là hiện tượng khắp thế giới và chúng du hành chính yếu là trong các hành lý của mọi người, vì vậy chúng có thể có mặt khắp nơi trong các phòng khách sạn, do đó hành động tức khắc là cách ly phòng ốc và hành lý".

"Điều rất quan trọng là các biệt mọi người và căn phòng khi trời nóng lên".

"Sức nóng được gắn trong phòng thường chúng ta dùng cho 4 người với máy sưởi nóng lên đến 2400 watt, và giữ cho căn phòng ở nhiệt độ 64 độ bách phân".

"Nhờ ý kiến đó, rệp không thể nào sống nổi trong môi trường đó".

Cách tốt nhất là những trường hợp tại khách sạn tuy hiếm xảy ra, thế nhưng việc tận diệt hoàn toàn rệp vẫn còn là chuyện khó khăn. Thế nhưng giáo sư Doggett tin rằng, vẫn có thể thực hiện được .

"Chúng ta cần việc kiểm soát côn trùng thích hợp, cần xử dụng liều lượng các phương tiện không có hoá chất một cách thích ứng và vài hợp chất hữu cơ như chất silicus được xử dụng rộng rãi và rất quan trọng cho mọi người biết được cách thức tốt nhất trong việc kiểm soát".

"Bởi vì chẳng ai muốn chúng xuất hiện trên giường và thật là khủng khiếp, chẳng thú vị gì, nó như chọc tức và chẳng vui sướng chi cả".

*Ăn rau quả cùng với việc tập thể dục, có thể giúp cho quí ông trung niên, trong chuyện chăn gối.

Phỏng vấn Bác sĩ Liêu vĩnh Bình, hội trưởng hội Y sĩ Việt Nam Úc châu.

Xin nghe phần âm thanh trên trang mạng của SBS Việt ngữ, tại sbs.com.au/vietnamese

*Khám phé mới về bạch tuột.

Các nhà khoa học nói rằng các con bạch tuột vốn là những con vật nhút nhát trong đại dương, thế nhưng những nhận xét nầy có thể được thay đổi nay mai.

Một cuộc nghiên cứu mới của các nhà khảo cứu Mỹ và Úc, được đăng tải trên tạp chí Current Biology, đã quan sát một tập hợp gồm 500 tính tình được tiết lộ vầ một cuộc sống có tính cách hết sức xã hội.

Trước đây người ta cứ nghĩ rằng, các con bạch tuộc chỉ đến gần nhau để giao phối hoặc để ăn thịt nhau. Thế nhưng với các máy quay phim nhắm vào một nhóm bạch tuộc ở Jevis Bay thuộc bờ biển phía nam New South Wales, họ tìm thấy chúng sống thân thiện và hoà hợp nhau, chứ không phải lúc nào cũng tìm cách xơi tái nhau.

*Hệ thống Miễn nhiễm thái quá ở trẻ nhỏ lúc sinh ra, có dính líu đến dị ứng thực phẩm ở trẻ em.

Theo một cuộc phân tích máu ở dây nhau của hơn 1500 bé sơ sinh, các trẻ em vốn có hệ thống miễn nhiễm thái quá khi chúng sinh ra, dường như là do việc phát triển sự dị ứng thực phẩm.

Các nhà nghiên cứu Úc đã khám phá dấu hiệu miễn nhiễm trong dị ứng thực phẩm, vào lúc 12 tháng tuổi của bé, khám phá được đăng tải trên Tạp chí Y khoa Science Translational Medicine.

Một trong các tác giả cuộc nghiên cứu, là giáo sư Len Harrison, thuộc Viện Walter and Eliza Hall, cho biết. “ Trong khi không thể chứng minh phản ứng miễn nhiễm được tăng cao lúc chào đời, việc nầy rõ ràng tách biệt các trẻ em được nghiên cứu với các em khác”.

“Cuộc nghiên cứu nầy thực sự nhấn mạnh điều quan trọng, khi phải xem xét lúc mang thai và cuộc sống đầu đời của bé, để thực sự hiểu được sự miễn nhiễm kinh niên và cảm giác khó chịu như bị cháy bỏng như dị ứng, phát triển trong thời thơ ấu và thời gian sau đó".

"Các nhà nghiên cứu khám phá rằng, các tế bào thuộc hệ thống miễn nhiễm, được gọi là monocytes, đã kích họat trong dây nhau của trẻ em, để phát triển thành chứng dị ứng thực phẩm".


Latest podcast episodes

Follow SBS Vietnamese

Download our apps

Listen to our podcasts

Get the latest with our exclusive in-language podcasts on your favourite podcast apps.

Watch on SBS

SBS World News

Take a global view with Australia's most comprehensive world news service

Stream now