Không nghi ngờ gì là tất cả chúng ta đều ít nhiều có thiên kiến trong cuộc sống cũng như khi chúng ta đưa ra một quyết định gì đó. Thế nhưng các chuyên gia cho rằng, khuynh hướng này nầy cũng xảy ra trong vấn đề nhân dụng và vì không hiểu biết chuyện nầy, khiến người ta lỡ đi các cơ hội tìm việc làm.
“Không ai đổ lỗi cho ai cả, đó là cách tôi nhìn vào sự kiện nầy".
"Không ai chỉ ra việc gì cả và khi quí vị bình tĩnh vạch ra mọi việc, đặc biệt khi bàn đến tình trạng quí vị bị thiên kiến một cách vô tình".
"Tuy nhiên một khi quí vị nhận ra hay cảm thấy khó chịu một chút, thì mục tiêu là khi quí vị đi ra ngoài và tự nhủ rằng, việc làm ngơ không còn là một cái cớ để có thể biện bạch”, Hoàng tử Harry.
Đó là lời Hoàng Tử Harry tranh luận khi đối đầu với các thành kiến của chính mình, về các vấn đề như sắc tộc và giai cấp, trong một cuộc đàm thoại do tạp chí GQ ở Anh tổ chức.
Vị Công Tước xứ Sussex bàn về các chuyện bất bình đẳng sắc tộc, cách ly xã hội và bản thân ông được ưu đãi khi lớn lên từ gia đình hoàng gia, cùng với quan điểm thiên kiến của ông đối với thế giới.
Thế nhưng có bao nhiêu cuộc thảo luận về chuyện định kiến và sự bất bình đẳng trong cơ cấu, mà các chủ nhân luôn luôn có?
Trong một cuộc khảo sát mới đây, Hội đồng về Dị Biệt Úc Châu khảo sát 3 ngàn công nhân và tiết lộ rằng, những người tự xem là thuộc giai cấp thấp kém dường như cảm thấy bất lợi nơi chỗ làm.
Thế nhưng tại một quốc gia như Úc, khi những người có học vấn cao có lợi tức thấp cùng chen vai thích cánh với những người giàu có, thì việc xác định ai ở giai cấp thấp hơn quả là không rõ ràng.
Bà Lisa Annese, Chủ tịch Hội đồng nói trên nói rằng, cuộc khảo sát dùng một phương pháp tự xác định, để xét xem giai cấp nào mà những người trả lời thuộc vào.
Họ so sánh chính mình với những người khác trên căn bản giàu có, lợi tức, nghề nghiệp, giáo dục, căn bản gia đình, đi học trường công hay tư và những người quen biết của họ nữa.
“Các thành tố tạo nên giai cấp thì một số có thể thay đổi được, chẳng hạn như lợi tức và nghề nghiệp của một số người".
"Thế nhưng còn có những chuyện khác như thực chất quí vị là ai, rồi sự giàu có mà quí vị sinh ra trong giàu sang hay nghèo khó".
"Liệu chúng ta có nạn nghèo khổ, từ đời nầy sang đời khác hay không?".
"Chúng ta từ bé, có thuộc giai cấp công nhân hay không?"
"Chúng ta đi học trường tư hay trường công?"
"Những điều nầy có khuynh hướng tồn tại với các cá nhân và họ nhìn nhận chính mình thuộc vào giai cấp đó”, Lisa Annese.
Bà cho biết cuộc khảo sát tiết lộ rằng, giai cấp hơn là phái tính, chủng tộc và thuộc giới LGBTQI, là chỉ dấu tiên đoán về kinh nghiệm của một số người gia nhập hay bị loại khỏi nơi làm việc.
Có 43 phần trăm các công nhân thuộc giai cấp thấp hơn cho biết, họ có các kinh nghiệm cá nhân bị kỳ thị hoặc bị quấy nhiễu tại nơi làm việc trong 12 tháng qua, so với 26 phần trăm của các công nhân thuộc giai cấp cao hơn.
Trong khi đó, có 27 phần trăm các công nhân thuộc giai cấp thấp nói rằng họ ở trong các toán riêng rẻ, so với 10 phần trăm những người thuộc giai cấp trung bình và 5 phần trăm những người thuộc giai cấp cao hơn.
"Chúng ta có vấn đề nhân dụng và lực lượng lao động vào thời gian hậu Covid và làm thế nào chúng ta tái sử dụng lực lượng lao động, sẽ là vấn đề hết sức thiết yếu”, Mary Patesos.
Tiến sĩ Claire Wright thuộc Trung tâm về lực lượng Lao động Tương lai tại Đại học Macquarie ở Sydney.
Bà xét đến giới tính, tuổi tác, sắc tộc, giai cấp và đặc tính nghề nghiệp cuả các lãnh đạo công ty như giám đốc hay các thành viên ban lãnh đạo trong dài hạn và vai trò của các định kiến cố ý hay vô tình trong việc tuyển dụng các cấp điều khiển.
Tiến sĩ Wright nói rằng, các thành tố tương tự diễn ra cho mọi cấp bậc trong việc tuyển dụng hay công việc thực hiện.
“Đó là một thảm kịch thực sự xảy ra, khi những người trẻ không thể nào chuyển đổi được từ chuyện học hành sang vấn đề nhân dụng".
"Nếu thất bại trong việc nầy, họ có thể gắn mình cả đời vào chuyện theo dõi màn ảnh nhỏ vào ban ngày”, Claire Wright.
Trong khi đó, bà Mary Patesos là người đứng đầu Hội đồng Các Liên đoàn Sắc tộc Úc Châu hay Fecca cho biết, vấn đề thành kiến là một hiện tượng tự nhiên của con người và xác định rằng, đầu óc chúng ta có mối liên hệ với những gì mà chúng ta cảm thấy tương tự và tạo nên một cảm giác an toàn cho chính mình.
Các vấn đề nổi lên, là do thiếu sự nhận thức về định kiến nầy, dẫn đến kết quả trong cùng một nhóm làm công việc thuê mướn và chọn những người giống họ.
Thế nhưng tại một quốc gia đa văn hóa và dị biệt như nước Úc, việc thuê mướn người giống chính mình, không còn là một cách chọn lựa nữa.
Bà cho biết, các chính sách về luật lệ và tổ chức hiện thách thức những chủ nhân, hãy nhìn xa hơn khu vực an toàn của họ.
Bà nói rằng, vấn đề thành kiến một cách vô ý thức lại phức tạp hơn, do mức độ thất nghiệp gia tăng vì đại dịch COVID-19.
“Tôi nghĩ trong thời đại Covid, hậu Covid hay bất cứ nơi nào chúng ta bị đại dịch, thì có một số người bị thất nghiệp".
"Rồi trong cách thức chúng ta tái sử dụng lực lượng lao động thì chuyện nầy trở nên quan trọng hơn nữa, do có nhiều người trẻ thất nghiệp, rồi người lớn tuổi cũng không có việc làm, với các căn bản văn hóa khác biệt".
"Chúng ta có vấn đề nhân dụng và lực lượng lao động vào thời gian hậu Covid và làm thế nào chúng ta tái sử dụng lực lượng lao động, sẽ là vấn đề hết sức thiết yếu”, Mary Patesos.
Thêm thông tin và cập nhật Like SBS Vietnamese Facebook
Nghe SBS Radio bằng tiếng Việt mỗi tối lúc 7pm tại sbs.com.au/vietnamese






