SKIP TO MAIN CONTENT

Khi những dòng sông ngừng chảy: Khủng hoảng nước lan rộng trên toàn cầu

Romania Extreme Weather Danube
Sông Danube bị khô hạn (AP Photo/Vadim Ghirda) Source: AP / Vadim Ghirda/AP Photo/Vadim Ghirda

Tại châu Âu, các con sông Loire, Po, Rhine và Danube đều xuống mức thấp kỷ lục trong những tuần gần đây, sau một thời gian dài nắng nóng và khô hạn. Và tình trạng này không chỉ xảy ra ở Bắc bán cầu. Các dòng sông tại Úc cũng đang thu hẹp, với những hậu quả nghiêm trọng theo cảnh báo của giới chuyên gia.


Published

By Angelica Waite

Presented by Hương Lan

Source: SBS


Skip to podcast episode content

Tại châu Âu, các con sông Loire, Po, Rhine và Danube đều xuống mức thấp kỷ lục trong những tuần gần đây, sau một thời gian dài nắng nóng và khô hạn. Và tình trạng này không chỉ xảy ra ở Bắc bán cầu. Các dòng sông tại Úc cũng đang thu hẹp, với những hậu quả nghiêm trọng theo cảnh báo của giới chuyên gia.


Sông Bosna, con sông lớn nhất Bosnia và Herzegovina, thường là một dòng nước sâu và rộng.

Nhưng sau nhiều đợt nắng nóng và hạn hán kéo dài, nhiều đoạn trên con sông dài 271 kilomet này giờ đây chỉ còn đá nhiều hơn nước.

Ngày càng có nhiều lo ngại rằng nếu tình hình không cải thiện, nguồn nước uống sẽ trở nên khan hiếm. Ngư dân địa phương Armin Fojskic dự báo một lượng lớn cá trên sông sẽ chết.

“Mực nước thấp là tình trạng nguy cấp đối với cá, đặc biệt khi xuống quá thấp, và trong những ngày qua, mực nước thực sự đã xuống rất thấp. Mối nguy chính đối với cá là lượng oxy trong sông. Khi dòng chảy suy giảm, lượng oxy trong nước cũng giảm theo và cá bắt đầu bị ngạt.”

Bosna là một trong nhiều con sông tại châu Âu đang ghi nhận mực nước sụt giảm nghiêm trọng. Các sông Loire, Po, Rhine và Danube đều xuống mức thấp kỷ lục trong những tuần gần đây.

Mực nước sông Danube hạ thấp khiến Hungary gặp khó khăn trong việc làm mát các lò phản ứng hạt nhân để duy trì hoạt động của các nhà máy. Trong khi đó, Romania buộc phải đóng cửa lò phản ứng cuối cùng còn hoạt động vào tuần trước.

Tại Bulgaria, phần còn lại của một sinh vật được cho là voi ma mút cổ đại đã lộ ra. Còn tại Serbia, dòng Danube thu hẹp đã để lộ những xác tàu từ thời Thế chiến thứ hai.

Ngư dân Serbia Zoran Lovric nói ông chưa bao giờ chứng kiến cảnh tượng tương tự.

“Điều này thực sự chưa từng xảy ra. Những xác tàu mà chúng tôi đang tiến đến chưa bao giờ lộ rõ như thế này. Trước đây chúng luôn chìm hoàn toàn dưới nước. Những gì chúng tôi đang chứng kiến là điều chưa từng có.”

Mặc dù mang đến những phát hiện thú vị cho giới sử học, những dòng sông đang thu hẹp được các nhà khoa học xem là dấu hiệu đáng lo ngại của một cuộc khủng hoảng nước toàn cầu ngày càng trầm trọng.

Ủy ban châu Âu cho biết khoảng một nửa diện tích đất liền của châu lục hiện đang chịu hạn hán. Lượng mưa thấp kéo dài, kết hợp với các đợt nắng nóng nghiêm trọng liên tiếp, đã khiến tình hình xấu đi trong những tháng gần đây.

Tình trạng này diễn ra giữa lúc nhiều đám cháy rừng lớn vẫn tiếp tục hoành hành trên khắp châu Âu.

Nhà thủy văn khí hậu học Peter Gleick, đồng sáng lập Viện Pacific tại California, cho biết những gì đang xảy ra tại châu Âu không còn nằm trong phạm vi biến động thời tiết thông thường.

“Thời tiết luôn biến động. Ở đâu đó, vào một thời điểm nào đó, chúng ta luôn có hạn hán, lũ lụt, nắng nóng hoặc giá rét. Nhưng những gì chúng ta đang chứng kiến hiện nay là các hiện tượng cực đoan trở nên nghiêm trọng hơn do biến đổi khí hậu do con người gây ra. Chúng ta biết khí nhà kính đang được thải vào khí quyển và làm Trái Đất nóng lên. Điều đó khiến các hiện tượng cực đoan trở nên khắc nghiệt, thường xuyên và dữ dội hơn.”

Ông cho biết những diễn biến cực đoan đang ảnh hưởng đến các dòng sông châu Âu cũng tác động tương tự đến các hệ thống nước trên toàn cầu.

“Chẳng hạn tại miền Tây Hoa Kỳ, sông Colorado là con sông lớn nhất ở khu vực Tây Nam khô hạn, được bảy tiểu bang và Mexico cùng chia sẻ, hiện đã xuống mức thấp kỷ lục. Một số hồ chứa lớn nhất thế giới được xây dựng trên sông Colorado cũng đang ở mức thấp kỷ lục. Lượng nước trong các hồ hiện thấp hơn bất kỳ thời điểm nào kể từ khi chúng được xây dựng cách đây 80 hoặc 90 năm.”

Không chỉ các dòng sông tại Bắc bán cầu đang mất nước.

Dòng chảy trong hệ thống sông lớn nhất nước Úc, lưu vực Murray–Darling, đã suy giảm trong nhiều thập niên.

Lưu vực này có tổng cộng 77.000 kilomet sông ngòi, với mạng lưới rộng lớn trải khắp phần lớn New South Wales, toàn bộ Lãnh thổ Thủ đô Úc và một phần Queensland, Nam Úc cùng Victoria.

Giám đốc Trung tâm Hệ sinh thái Nước ngọt tại Đại học La Trobe, Nick Bond, cho biết tình trạng suy giảm mực nước trở nên đặc biệt rõ rệt kể từ đợt Hạn hán Thiên niên kỷ kéo dài từ năm 1997 đến năm 2010.

“Các dòng sông trên khắp lưu vực đều cho thấy xu hướng suy giảm lượng nước chảy vào. Đặc biệt tại một số khu vực, thời gian dòng chảy bị gián đoạn đang kéo dài hơn, tức có những giai đoạn các con sông hoàn toàn ngừng chảy.”

Mực nước sụt giảm nghiêm trọng trong lưu vực phần lớn được cho là do hoạt động khai thác nước quá mức. Nhiều thảm họa như cá chết hàng loạt, đất ngập nước biến mất và tảo nở hoa cũng được cho là có liên quan đến tình trạng sử dụng nước quá mức.

Liên minh Bảo tồn Murray–Darling cho biết nông nghiệp tưới tiêu là lĩnh vực sử dụng nước nhiều nhất trong lưu vực, chiếm khoảng 80 đến 90% tổng lượng nước được khai thác.

Năm 2012, chính phủ Úc và tất cả các tiểu bang thuộc lưu vực đã đạt được một thỏa thuận, đặt ra giới hạn pháp lý đối với hoạt động khai thác nước nhằm cân bằng nhu cầu sản xuất nông nghiệp với sức khỏe của các dòng sông.

Ông Bond cho biết mặc dù khai thác quá mức chắc chắn là một nguyên nhân chính khiến mực nước suy giảm, biến đổi khí hậu do con người gây ra cũng đóng vai trò đáng kể.

“Không nghi ngờ gì việc khai thác nước đang tác động đến mô hình dòng chảy. Khi khí hậu trở nên khô hạn hơn, những tác động này càng nghiêm trọng. Nhưng ngay cả tại một số lưu vực đầu nguồn, nơi hoạt động khai thác nước rất hạn chế, chúng tôi vẫn nhận thấy xu hướng khô hạn. Vì vậy, có một dấu hiệu khí hậu rất rõ ràng gắn liền với tình trạng này.”

Trong năm nay, Cơ quan Quản lý Lưu vực Murray–Darling đang rà soát kế hoạch quản lý lưu vực để xác định những thay đổi cần thiết, nhằm giúp kế hoạch vận hành hiệu quả hơn.

Một trong những nội dung được xem xét là cách áp dụng các nghiên cứu khoa học mới nhất để giúp kế hoạch thích ứng với khí hậu đang thay đổi, bao gồm thời tiết nóng hơn, khô hơn và những đợt hạn hán cực đoan hơn.

Ông Bond cho biết biến đổi khí hậu đang gây ra nhiều tác động đối với hệ thống sông ngòi và tình hình được dự báo sẽ xấu đi khi nhiệt độ toàn cầu tiếp tục tăng.

Một vấn đề quan trọng là khi mực nước hạ xuống, chất lượng nước cũng suy giảm.

“Có rất nhiều vấn đề đang phát sinh. Một trong những tác động rõ ràng nhất mà người dân trực tiếp trải qua là chất lượng nước suy giảm. Chúng ta đang chứng kiến nhiều đợt tảo lam bùng phát hơn và có những nơi nước không còn uống được. Xét về đa dạng sinh học, nhiều loài cũng đang biến mất khỏi những dòng sông khô cạn, bao gồm cá và các loài quan trọng như trai sông. Rõ ràng tình trạng khô hạn đang gây ra những tác động đối với đa dạng sinh học.”

Ông cho biết mạng lưới rộng lớn gồm những con suối nhỏ chảy vào các dòng sông lớn cũng đang chịu tác động nghiêm trọng, nhưng thường bị bỏ qua.

“Khi nhìn trên bản đồ, những dòng nước nhỏ này thực tế chiếm phần lớn toàn bộ mạng lưới sông ngòi. Vì vậy, việc mất dòng chảy và suy giảm đa dạng sinh học trong các hệ thống này thực sự là một vấn đề rất quan trọng.”

Giáo sư Bradley Moggridge, một người Kamilaroi, là nhà địa chất thủy văn tại Đại học Công nghệ Sydney.

Ông cho biết các cộng đồng Thổ dân và người dân đảo Torres Strait đang phải chịu một số tác động nghiêm trọng nhất từ tình trạng chất lượng nước suy giảm khi dòng chảy ngày càng thu hẹp.

“Tiếp cận nguồn nước sạch là một quyền căn bản của con người. Tuy nhiên, nhiều cộng đồng có phần lớn dân số là người Thổ dân và người dân đảo Torres Strait trên khắp lục địa vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận nước sạch, an toàn hoặc thậm chí nhà vệ sinh có nước xả. Một số cộng đồng lấy nước trực tiếp từ nguồn nước ngầm, số khác lấy từ sông, trong khi tình trạng của những nguồn nước này vẫn còn nhiều nghi vấn. Đã có rất nhiều báo cáo về vấn đề này.”

Giáo sư Moggridge cho biết khi Murray–Darling, dòng sông có tên truyền thống là Baaka, thu hẹp, những tác động sâu sắc về văn hóa cũng xuất hiện.

Dòng sông chảy qua vùng đất của hơn 40 dân tộc Thổ dân khác nhau. Mỗi dân tộc có những mối liên hệ, câu chuyện và ngôn ngữ riêng gắn liền với dòng nước.

“Người Barkindji đã chứng kiến dòng sông thay đổi nhưng không thể làm gì. Tôi cho rằng họ buộc phải thích nghi. Người Barkindji có mối liên hệ vô cùng mật thiết với Baaka. Họ là người của dòng sông, người Baaka. Việc họ cảm thấy bất lực ngay trên chính quê hương mình cho thấy cách quản lý cần phải thay đổi. Đồng thời, chúng ta cũng phải đặt câu hỏi điều gì đang xảy ra ở thượng nguồn và gây ra tình trạng dòng chảy thấp như vậy.”

Khi tác động kết hợp của hoạt động khai thác nước và tình trạng nóng lên toàn cầu đe dọa tiếp tục gây tổn hại cho dòng sông cùng hệ sinh thái, Giáo sư Moggridge cho rằng cần khẩn cấp áp dụng một cách tiếp cận mới.

Ông nói trí tuệ và kiến thức về sông ngòi được các cộng đồng First Nations tích lũy qua hàng chục ngàn năm phải được đưa vào công tác quản lý và bảo vệ các dòng sông.

“Thông qua sự am hiểu về Country cùng mối liên hệ và quá trình quan sát kéo dài qua hàng ngàn thế hệ, người Thổ dân nắm giữ những kiến thức đó. Chúng được lưu giữ trong các câu chuyện, bài hát và truyền thống truyền miệng, rồi được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.”

Ông Gleick cho biết ở cấp độ toàn cầu, khi các dòng sông trên nhiều châu lục tiếp tục thu hẹp, thế giới rõ ràng cần có sự thay đổi mang tính quyết định trong cách quản lý tài nguyên nước.

Tổ chức Khí tượng Thế giới cho biết hiện tượng El Niño mạnh đang gia tăng tại Thái Bình Dương làm tăng khả năng nhiệt độ cao hơn mức bình thường trên phần lớn thế giới, đồng thời gây ra những thay đổi đáng kể trong mô hình lượng mưa.

Ông Gleick cho rằng lượng khí thải nhà kính phải được cắt giảm để làm chậm tốc độ biến đổi khí hậu trong khả năng có thể.

Tuy nhiên, ông nói các chính phủ trên thế giới cũng phải thích ứng với những tác động do con người gây ra mà hiện nay không còn có thể tránh khỏi.

“Chúng ta phải tăng cường khả năng chống chịu trước những hiện tượng cực đoan đang xảy ra. Chúng ta phải học cách ứng phó tốt hơn với lũ lụt, hạn hán và những đợt lũ lụt, hạn hán nghiêm trọng hơn sẽ xuất hiện trong tương lai. Vì vậy, tăng cường khả năng chống chịu của hệ thống nước trước những tác động khí hậu không còn có thể tránh khỏi là một phần quan trọng khác của bài toán.”

Đồng hành cùng chúng tôi tại SBS Vietnamese Facebook và cập nhật tin tức ở sbs.com.au/vietnamese

Chúng tôi cũng có mặt trên YouTube

Nghe SBS Tiếng Việt trên ứng dụng miễn phí SBS Audio, tải về từ App Store hay Google Play 


Latest podcast episodes

Follow SBS Vietnamese

Download our apps

Listen to our podcasts

Get the latest with our exclusive in-language podcasts on your favourite podcast apps.

Watch on SBS

SBS World News

Take a global view with Australia's most comprehensive world news service

Stream now