Một bài viết xuất hiện nổi bật trên trang 5 nhật báo Vũ Hán Chutian Metropolis Daily, ngày 25/5/2012, với dòng tiêu đề thật lớn:
“Cha, Mẹ: Con mong sao có thể ôm cha mẹ một lần. Cảm ơn hai người đã đưa con đến thế giới này.”
Đó là mùa hè năm 2012, Jenna Cook 20 tuổi, đang học năm ba đại học Yale, Hoa Kỳ. Cô nhận được một khoản tiền tài trợ cho cô quay về Trung Quốc để tìm mẹ. Đây là một phần trong luận văn nghiên cứu của Jenna. Cô hy vọng kinh nghiệm tìm người thân của mình có thể giúp ích cho gần 80 ngàn trường hợp tương tự cô, đó là những đứa con nuôi người Trung Quốc đang sống tại Mỹ. Tuy nhiên quá trình tìm kiếm còn mang nhiều ý nghĩa cho chính bản thân cô, nên Jenna đã hỏi ý mẹ nuôi có thể đi theo giúp đỡ cho mình không. Thế là cả hai lên đường sang Trung Quốc giữa mùa hè năm 2012.
Jenna in những tấm bích chương khổ nhỏ, chụp hình cô từ lúc ấu thơ cho đến khi trưởng thành, cùng một vài dòng ít ỏi về tình huống lúc người ta nhặt được cô ra sao. Cô bắt đầu phát những tờ giấy nhỏ đó cho khách bộ hành trên các con đường của thành phố Vũ Hán. Nhưng mọi việc sẽ không gây chú ý đến thế nếu không có sự xuất hiện của bài báo nhỏ với dòng tiêu đề nói trên. Trả lời trong chương trình phỏng vấn của đài BBC hôm 24/3/2017 Jenna kể:
“Mọi thứ đều thay đổi chỉ sau một tuần tôi bắt đầu đi tìm mẹ, khi một người bạn của một người bạn có người quen làm ký giả. Và người đó đã viết một bài báo về câu chuyện của tôi, đăng trên nhật báo của Vũ Hán Chutian Metropolis Daily.”
Kể từ khi bài báo được đăng, Jenna thật sự bất ngờ vì không lường trước được câu chuyện tìm người thân của mình đã khiến hàng chục gia đình tìm đến với khao khát hy vọng cô chính là đứa con gái đã thất lạc của họ.
“Trong cơn nóng ẩm bức bối ở thành phố kỹ nghệ Vũ Hán, tôi cảm thấy như mình đang mắc nợ cha mẹ ruột, mình phải tìm được ra nơi họ sống, nhưng hơn hết, tôi mắc nợ với chính bản thân mình. Tôi lớn lên tại bang Massachusetts, Hoa Kỳ, trước khi đến Vũ Hán, tôi không hề nghĩ rằng cuộc tìm kiếm của mình lại khiến truyền thông ở đây chú ý đến thế, có hàng chục gia đình đến gặp tôi và nói tôi chính là đứa con của họ.”
Một người phụ nữ đến gặp Jenna, tay nâng niu một miếng vải màu xanh kẻ ô đỏ.
“Con đã từng nhìn thấy miếng vải giống như thế này khi còn nhỏ chưa?”
Jenna cầm miếng vải lên soi dưới ánh sáng, cô để ý mép vải cotton đã cũ sờn và rách tả tơi, có lẽ vì đã bị cầm lên rất nhiều lần.
“Nhà mẹ đã có ba đứa con gái. Mẹ rất cần một đứa con trai. Lúc đó cả nhà rất nghèo. Mẹ đã để dành tiền mua một miếng vải, và tự tay may cho con một bộ đồ bé sơ sinh và một cái mũ. Sau đó 50 ngày, mẹ đã đánh mất con dưới cầu.”
Người phụ nữ này dùng từ “đánh mất” thay cho từ “bỏ rơi”.
“Mẹ mặc bộ đồ mới cho con để chúc phúc. Mẹ giữ miếng vải thừa này suốt 20 năm qua để tưởng nhớ con. Con gái bé bỏng ơi, chắc chắn con phải nhìn thấy miếng vải này trước đây rồi. Con hẳn cũng có một bộ đồ sơ sinh có vải giống như thế này phải không?”
Jenna lắc đầu. Cô chưa từng nhìn thấy miếng vải tương tự trong đời. Gương mặt người phụ nữ sụp xuống, bà ta khóc thổn thức.

Câu chuyện của Jenny Cook khiến cho vết thương đã mưng mủ của Trung Quốc lại một lần nữa bị khoét sâu thêm.
Vào ngày 24/3/1992, gần một bến xe liên tỉnh đông đúc ở thành phố Vũ Hán, có ai đó đã để lại một em bé trên đường. Có thể sau khi để lại em bé ở đó, họ còn đứng từ xa quan sát cho đến khi có người tới nhặt em lên. Em bé được đưa tới trung tâm an sinh trẻ em Vũ Hán ở gần đó. Tại đây, em được đặt tên là “Xi Huasi”, nghĩa là “thuộc về Trung Quốc”. sau đó em được giám đốc trung tâm chọn cho mình một ngày sinh bốc thăm ngẫu nhiên.
“Khi đi tìm mẹ, tôi đã gặp hơn 50 gia đình, mỗi gia đình này đều đã từng bỏ lại một đứa con gái tại đúng con đường tôi bị bỏ rơi ở Vũ Hán vào tháng Ba năm 1992. Vậy mới biết con số đó nhiều đến thế nào? Những con đường khác ở Vũ Hán trong tháng Ba năm đó thì sao? Những tháng khác thì sao? Những năm khác thì sao? Và còn biết bao nhiêu gia đình không muốn công khai là họ đã từng bỏ rơi con cái nữa? Tôi tìm hiểu và được biết là họ bỏ con lại trên đường vì rất nhiều nguyên nhân khác nhau, từ chính sách con một đến truyền thống khát khao muốn có con trai, từ việc họ quá nghèo cho đến lý do họ mang thai khi đang ở tuổi vị thành niên. Cũng có thể đó là đứa con bị khuyết tật hoặc sinh ra trong gia đình có di truyền một căn bệnh nào đó.”
Chính sách con một của Trung Quốc khiến gia đình bị phạt rất nặng nếu có quá nhiều con. Nhưng luật pháp ở quốc gia này lại không cho phép người ta bỏ đi đứa con không mong muốn. Ở đây cũng không có thủ tục nhận con nuôi chính thức.
“Tôi đến Trung Quốc để tìm lại người mẹ ruột đã bỏ rơi mình tại một góc phố ở Vũ Hán. Nhưng cũng chính vì vậy mà tôi đã trở thành tâm điểm khơi lại nỗi đau nhiều thập niên của quốc gia này.”
Tuy nhiên chỉ vài ngày sau khi Trung Quốc thông qua đạo luật cho phép người ngoại quốc được nhận con nuôi Trung Quốc, vào cuối tháng Sáu một giáo viên dạy tiểu học người Mỹ, tên là Margaret Cook, đã đến nhận trung tâm an sinh cho trẻ em ở Vũ Hán và nhận bé Xi Huasi làm con nuôi. Bà đặt lại tên cho bé là Jenna Cook và đưa bé về nhà mình tại bang Massachusetts. Jenna nhớ lại:
“Một ký giả Trung Quốc từng hỏi tôi: “Làm sao mà em có thể từ một tình huống quá không may mắn lại gặp nhiều may mắn như vậy? Số phận của em đã sang trang chỉ trong một khoảnh khắc.” Mặc dù ký giả này gán cho tôi là may mắn vì được ra ngoại quốc, lớn lên trở thành nữa sinh trường Yale, vừa thành công vừa được mẹ nuôi yêu thương, nhưng ở đó chúng tôi mất đi nguồn gốc văn hóa, ngôn ngữ cũng như quyền công dân. Nhiều người con nuôi bị kỳ thị sắc tộc ngay trong cộng đồng họ lớn lên. Mỗi năm đều có vài trường hợp mưu toan tự tử trong cộng đồng con nuôi Trung Quốc tại Mỹ.”
Jenna là đứa bé thuộc làn sóng con nuôi đầu tiên, gồm 200 em được các gia đình Mỹ nhận nuôi. Làn sóng này ngày càng trở nên phổ biến, đến nay theo ước đoán có khoảng 80 ngàn em bé, đa số là bé gái đã định cư tại Mỹ. Cũng như khoảng 40 ngàn em gái khác theo gia đình cha mẹ nuôi đến Hòa Lan, Tây Ban Nha và Anh quốc. Theo một ước tính khác, từ năm 1992 đến 2013, có gần 140 ngàn trẻ em Trung Quốc được người ngoại quốc nhận nuôi. Phúc trình của chính phủ Trung Quốc cho hay chỉ tính riêng các trường hợp nhận con nuôi trong nước đã lên đến gần 500 ngàn em, từ năm 2000 đến 2013, chưa kể đến những trường hợp không chính thức và không được chính phủ ghi nhận.
“Ngay cả đối với những người Trung Quốc không bị mất con, thì họ cũng từng nghe về câu chuyện này. Trong cuộc hành trình, tôi khám phá rằng hầu như mỗi người mình gặp đều có mối quan hệ cá nhân với một ai đó bị mất con, bỏ rơi con hoặc nhận con nuôi. Từ người phục vụ bàn ăn đến tài xế taxi. Tuy nhiên rất nhiều người trong số đó không hề hay biết những em bé bị bỏ rơi đã được đưa ra ngoại quốc, và đa số lớn lên tại Hoa Kỳ.”
Jenna cho hay cái nhìn của người Mỹ về việc nhận con nuôi và khái niệm của họ về gia đình thật khác biệt với quan niệm truyền thống của người Trung Quốc.
“Năm 2012, tôi cảm thấy thật khó khăn khi trả lời những câu hỏi của ký giả Trung Quốc. Họ hỏi tôi “Em biết mình là con nuôi từ khi nào?” Thật ra trong xã hội Mỹ, người ta đều biết mình là con nuôi ngay từ đầu, đặc biệt là trong những gia đình đa sắc tộc như của tôi. Chúng tôi nói chuyện về chủ đề con nuôi cũng bình thường như khi bàn bạc tối nay sẽ ăn món gì. Họ còn hỏi tôi: “Làm sao mà mẹ nuôi có thể ủng hộ em trong cuộc tìm kiếm này?” Thật ra trong cộng đồng con nuôi Trung Quốc tại Mỹ, gia đình cha mẹ nuôi luôn muốn đi tìm người thân ruột thịt cho con mình, có nhiều cuộc hội thảo và sách xuất bản để giúp cha mẹ nuôi tìm hiểu những phương cách tìm mẹ ruột cho con. Ký giả Trung Quốc còn hỏi tôi “Nếu em tìm thấy cha mẹ ruột rồi, thì làm sao em có thể phụng dưỡng cả hai cha mẹ lúc họ về già?” Tôi cũng chẳng biết phải trả lời thế nào vì người Mỹ luôn để dành tiền dưỡng già cho mình và chẳng bao giờ hy vọng sẽ dựa dẫm tài chánh vào con cái lúc xế chiều.”
Jenna và chị gái đều là những người con nuôi Trung Quốc. Hai chị em lớn lên tại một thị trấn có rất ít người mang sắc tộc giống mình. Nhưng người mẹ nuôi Margaret luôn bảo đảm hai đứa con vẫn giữ được mối dây liên hệ với quê cha đất tổ. hai chị em được học tiếng Trung Quốc tại trường và họ cũng có cộng đồng riêng để giao lưu, với những trẻ em Trung Quốc là con nuôi khác. Jenna chẳng bao giờ nghĩ con nuôi là một vấn đề to tát, tuy nhiên đôi khi cô cũng băn khoăn về nguồn gốc của mình.
"Mỗi lần nhìn xuống lỗ rốn, bạn sẽ luôn tự hỏi: “Mình đã từng gắn bó với máu thịt của một người. Nhưng người đó là ai? Người đó có còn trên cõi đời này không? Nhiều người sinh ra đã có gia đình và họ chưa từng nghĩ nhiều về điều đó. Nhưng đối với những đứa con nuôi, chúng luôn suy nghĩ về khả năng là mình có thể sống một cuộc sống khác như thế nào.”
Từ năm 15 tuổi Jenna đã nổi tiếng học giỏi, chăm chỉ. Cô luôn đạt hạng A tại trường học. Lên đại học cô thi đỗ vào trường Yale. Thành công và được mọi người yêu thương, nhưng Jenna luôn tự hỏi tại sao cha mẹ lại bỏ rơi mình. Cô đã làm sai điều gì chăng? Có lẽ chính vì vậy mà trong cuộc sống, Jenna luôn muốn mình trở nên hoàn hảo về mọi mặt để không ai có thể bỏ rơi cô nữa. Trong cuộc hành trình đi tìm mẹ ruột, Jenna nhận ra mỗi ngày có tới 12 ngàn người đến và đi tại bến xe liên tỉnh Vũ Hán nơi cô bị bỏ rơi. Họ đến từ nhiều vùng xa xôi hẻo lánh khác nhau của Trung Quốc. Điều này càng khiến cho cuộc tìm kiếm trở nên gian nan hơn.
“Hồi năm 2012, khi đi đến một bến xe liên tỉnh nằm gần con đường nơi tôi bị bỏ rơi, tôi đã hỏi thăm một nhân viên cao niên ở đây là bà có nhớ đã từng thấy một bé gái trên con đường gần đó vào tháng Ba năm 1992 không? Bà ta thở dài và nhớ lại những ngày tháng đó, bà và đồng nghiệp lúc nào cũng nhìn thấy trẻ em bị bỏ rơi gần bến xe. Một viên cảnh sát đã về hưu từng làm việc ở đồn cảnh sát gần đó cũng nói, khu vực này có nhiều trẻ con bị bỏ rơi trên đường đến nỗi giới chức thời đó không buồn ghi nhận lại trong hồ sơ những trường hợp được phát hiện.”
Tuy nhiên, sau khi bài báo địa phương được xuất bản, nhiều cơ quan truyền thông lớn của Trung Quốc đã tham gia khai thác câu chuyện của Jenna. Sức lan tỏa của câu chuyện thật nhanh chóng. Chỉ vài tuần sau đó, hàng trăm tin nhắn được gởi tới Jenna qua mạng xã hội. Trang mạng của cô đạt hàng trăm ngàn người theo dõi. Giữa những bức thư và tin nhắn vừa an ủi, vừa chúc cô nhanh chóng tìm thấy mẹ, Jenna đã nhận được những bức thư mà cô mong đợi nhất. Đó là từ những gia đình nghĩ rằng cô chính là đứa con gái của họ. Sau khi chọn lọc về thời gian, về địa điểm và nhiều yếu tố khác, cuối cùng cô và mẹ nuôi thu hẹp lại số lượng gia đình mình sẽ đi gặp xuống còn 50 người. Tất cả họ đều từng bỏ lại một đứa con trên đúng con đường đó vào tháng Ba năm 1992.
Có nhiều cặp cha mẹ đi gặp Jenna một mình. Những người khác mang theo cả đại gia đình, bao gồm cả ông bà nội ngoại. Ban đầu Jenna muốn tiếp xúc với các gia đình theo phương pháp khoa học nhất. Cô cứ nhắc đi nhắc lại chính bản thân mình là mình chỉ gặp họ để ghi lại câu chuyện của họ mà thôi.
"Nếu tôi cứ đi đến mỗi cuộc gặp mặt và suy nghĩ trong đầu rằng: Có lẽ đây là họ, có lẽ đây là gia đình mình. Thì có lẽ đến cuối ngày, tôi sẽ gục ngã mất.”
Mỗi gia đình tiếp xúc với Jenna đều nghĩ rằng cô chính là đứa bé mà họ đang đi tìm.
Một người mẹ cứ xoa đầu cô mãi. Họ đều muốn biết cô có khỏe mạnh không. Họ hỏi cô:
“Mẹ nuôi có thương con không, có mắng chửi con không? Họ có cho con ăn uống đầy đủ không?”
Mỗi lần như vậy Jenna đều cam đoan là cô được chăm sóc rất chu đáo.
“Những cuộc gặp gỡ đó đã khiến tôi phải đặt lại câu hỏi về ý nghĩa của hai từ “bỏ rơi”. Tất cả những gia đình đó đều nhấn mạnh họ đã tìm một vị trí thuận lợi để con gái họ có thể được phát hiện nhanh chóng và mang đi an toàn. Nhiều cha mẹ để lại mảnh giấy hoặc mặc cho con quần áo có kiểu may thật đặc biệt, với hy vọng rằng những thứ này về sau có thể giúp họ tìm lại được con. Một gia đình khác viết ngày sinh của con gái lên một miếng giấy bọc thuốc lá và nói: “đây là tất cả những gì chúng ta có thể giữ lại cho con”. Một cặp cha mẹ lại đặt tên đứa con mình bỏ rơi bằng cách ghép tên hai tỉnh nơi họ sinh ra, hy vọng sau này khi lớn lên đứa con có thể biết đường tìm về gặp họ. Vài người mẹ tự tay may đồ cho con với những miếng vải độc đáo, giống như miếng vải xanh kẻ ca rô đỏ mà một người mẹ đã đưa cho tôi để xác nhận”.
Sau đó là đến việc xác nhận những bằng chứng khoa học hơn, như chiều cao, hình dáng bàn chân hoặc bàn tay. Và cuối cùng có 37 gia đình phù hợp để tiếp tục được kiểm tra DNA.
Tuy nhiên kết quả thật đáng buồn, những cuộc thử nghiệm DNA đều thất bại. mặc dù vậy Jenna nói trải nghiệm lần này đã giúp cô rất nhiều điều.
“Cho đến giờ tôi vẫn chưa tìm ra cha mẹ đẻ. Vì vậy tôi vẫn không biết điều gì đã khiến họ bỏ tôi lại trên con đường tại thành phố Vũ Hán đó vào năm 1992. Nhưng khi nói chuyện với hơn 50 gia đình đến nhận tôi, tôi mới biết được họ đau đớn và dằn vặt như thế nào. Họ quàng tay ôm chầm lấy tôi và khóc thổn thức. Nhiều người quỳ xuống trước mặt tôi và van xin tôi hãy tha thứ cho họ.”
Jenna dành mùa hè cuối cùng làm việc tại Trung Quốc, chính ở cơ sở an sinh cho trẻ em đã từng nuôi nấng cô, nhưng cô không bao giờ chủ động đi tìm đấng sinh thành nữa.
"Tôi rất muốn một ngày nào đó sẽ được đoàn tụ với cha mẹ ruột. Nhưng tôi không cho rằng điều đó sẽ xảy ra."




