SKIP TO MAIN CONTENT

Thực trạng sức khỏe phụ nữ qua cuộc nghiên cứu hàng đầu tại Úc

Australian Longitudinal Study on Women’s Health marks 30 years.jpg
Australian Longitudinal Study on Women’s Health marks 30 years (source: ALSWH 2026)

Trong lãnh vực y khoa, phụ nữ cũng thường không được đưa vào các cuộc nghiên cứu lâm sàng, thế nhưng những loại thuốc và phương pháp chữa trị được phát triển từ các cuộc nghiên cứu ấy, sau đó lại được áp dụng cho toàn thể dân chúng, kể cả phụ nữ.


Published

By Kerrin Thomas, Phan Bách

Source: SBS


Skip to podcast episode content

Trong lãnh vực y khoa, phụ nữ cũng thường không được đưa vào các cuộc nghiên cứu lâm sàng, thế nhưng những loại thuốc và phương pháp chữa trị được phát triển từ các cuộc nghiên cứu ấy, sau đó lại được áp dụng cho toàn thể dân chúng, kể cả phụ nữ.


Trong nhiều thập niên qua, hình nộm dùng trong các cuộc thử nghiệm đụng xe, vẫn được chế tạo dựa trên thân thể nam giới. Mãi đến vài năm gần đây, người ta mới đưa vào sử dụng một hình nộm được thiết kế theo thân thể phụ nữ.

Những nghịch lý này là một phần trong một công trình nghiên cứu có tính cách tiên phong, nhằm tìm hiểu những gì đang xảy ra trong cơ thể, tâm trí và đời sống của phụ nữ.

Công trình này nay đánh dấu 30 năm kể từ ngày khởi sự. Trong số những khám phá mới nhất, các nhà nghiên cứu đã hiểu biết sâu rộng hơn, về những hậu quả lâu dài của bạo hành trong gia đình và giữa những người thân, đồng thời nhận thấy bệnh lạc nội mạc tử cung phổ biến ở phụ nữ, nhiều hơn so với những ước tính trước đây.

Trong nhiều thế kỷ, các công trình nghiên cứu về sức khỏe con người, phần lớn tập trung vào nam giới.

Tại Úc, phong trào đòi thay đổi quan niệm này, bắt đầu có thêm động lực trong những năm 1970 và 1980, qua phong trào vận động cho sức khỏe phụ nữ.

Năm 1989, Úc công bố Chính sách Quốc gia đầu tiên về Sức khỏe Phụ nữ, đồng thời cũng là một sáng kiến tiên phong trên thế giới.

Chính sách này đề ra 5 lãnh vực ưu tiên gồm: nghiên cứu và thu thập dữ kiện, cải thiện các dịch vụ y tế dành cho phụ nữ, cung cấp thông tin sức khỏe cho phụ nữ, huấn luyện giới chuyên môn chăm sóc sức khỏe và tạo điều kiện để phụ nữ tham gia vào việc quyết định những vấn đề liên quan đến sức khỏe.

Vài năm sau, chính phủ loan báo cấp ngân khoản cho một công trình nghiên cứu về sức khỏe phụ nữ, đồng thời kêu gọi các tổ chức quan tâm đứng ra thực hiện dự án.

Đến năm 1996, Công trình Nghiên cứu Dài hạn về Sức khỏe Phụ nữ Úc, chính thức ra đời.

Giáo sư Deb Loxton thuộc Đại học Newcastle, là một trong những giám đốc của công trình nghiên cứu. Bà cho biết dự án được thành lập, với mục đích nghiên cứu người phụ nữ như một con người toàn diện, chứ không chỉ nhìn họ qua buồng trứng và tử cung.

“Vào thời điểm ấy, người ta đặc biệt chú trọng đến phụ nữ qua hệ thống sinh sản của họ, đồng thời thường xem phụ nữ là những trường hợp không điển hình, trong khi cơ thể nam giới lại được xem là tiêu chuẩn. Vì vậy, quan niệm về sức khỏe phụ nữ lúc bấy giờ, mang tính cách rất thu hẹp và nặng về phương diện sinh học. Đã có một sự thúc đẩy rất mạnh mẽ, nhằm tìm hiểu sức khỏe phụ nữ một cách toàn diện hơn, không chỉ xét đến phương diện sinh học, mà còn cả tâm lý và môi trường xã hội, trong đó người phụ nữ sinh sống”, Deb Loxton.

Trong khi đó Giáo sư Gita Mishra là nhà nghiên cứu sau tiến sĩ đầu tiên, được tuyển dụng cho công trình này và hiện là giám đốc dự án tại Đại học Queensland.

Bà cho biết, mặc dù trên thế giới có những công trình tương tự, theo sự hiểu biết của bà, không có công trình nào khác mang tính cách toàn diện đến mức này.

“Chúng ta không thường thấy một công trình nghiên cứu như thế này, trong đó chúng tôi theo dõi một mẫu phụ nữ, được chọn ngẫu nhiên trên toàn quốc và đang sinh sống trong cộng đồng. Tôi nghĩ đây là một công trình độc đáo. Đặc biệt, với 4 nhóm phụ nữ thuộc những thế hệ khác nhau, có những giai đoạn cuộc đời chồng lấn lên nhau, phương thức nghiên cứu này rất hữu hiệu và có giá trị đặc biệt, trong việc cung cấp kiến thức cho khoa học”, Gita Mishra.

Bốn nhóm mà bà đề cập, gồm những phụ nữ được phân chia theo năm sinh: từ 1921 đến 1926; 1946 đến 1951; 1973 đến 1978; và 1989 đến 1995.

Giáo sư Loxton cho biết, phương thức này giúp phụ nữ thuộc mọi lứa tuổi, có cơ hội lên tiếng về sức khỏe và đời sống của chính mình.

“Dữ kiện về những người trẻ tuổi nhất, mà chúng tôi có bắt đầu từ tuổi 18, trong khi những phụ nữ lớn tuổi nhất trong cuộc nghiên cứu hiện đã 105 tuổi. Có khoảng 100 người ở độ tuổi này, trong đó khoảng 33 người vẫn tiếp tục trả lời cuộc khảo sát sáu tháng một lần. Các nhóm khác trả lời khảo sát 3 năm một lần. Tuy nhiên, đối với những phụ nữ lớn tuổi, trong khoảng 10 năm trở lại đây, họ được yêu cầu trả lời những cuộc khảo sát ngắn hơn mỗi 6 tháng, để chúng tôi có thể theo dõi diễn tiến sức khỏe của họ, khi bước vào tuổi rất cao”, Deb Loxton.

Công trình đang giúp các nhà nghiên cứu, khám phá nhiều khía cạnh quan trọng về sức khỏe phụ nữ.

Giáo sư Loxton nghiên cứu những hậu quả tức thời cũng như lâu dài của bạo hành gia đình, bạo hành giữa những người thân và bạo hành tình dục, đối với sức khỏe thể chất và tinh thần của phụ nữ.

Bà đã theo đuổi vấn đề này, từ khi thực hiện luận án tiến sĩ vào năm 1999. Qua công trình nghiên cứu dài hạn, bà đã chứng minh rằng những hậu quả của bạo hành có thể kéo dài rất lâu.

“Vào thời điểm ấy, chúng tôi chỉ có hai mốc dữ kiện, nhưng chừng đó cũng đủ để nhận thấy, bạo hành gia đình có liên hệ đến sự suy giảm sức khỏe khá nghiêm trọng, cả về tinh thần lẫn thể chất, đồng thời số bệnh kinh niên cũng gia tăng. Nhìn lại điều này khá đáng chú ý, bởi lúc đó rất nhiều người không tin rằng bạo hành gia đình, có thể gây ra những hậu quả khác ngoài thương tích. Tất nhiên theo thời gian, sự hiểu biết của chúng ta về vấn đề này đã thay đổi. Những dữ kiện từ công trình nghiên cứu dài hạn cho thấy, sự suy giảm sức khỏe đó trên thực tế có thể kéo dài suốt cuộc đời”, Deb Loxton.

Trong nhóm phụ nữ lớn tuổi nhất, cuộc nghiên cứu cho thấy những phụ nữ từng trải qua bạo hành gia đình, có khuynh hướng qua đời ở tuổi trẻ hơn, so với những phụ nữ chưa từng trải qua bạo hành.

Giáo sư Loxton cho biết, kết quả này giúp bác sĩ biết cần lưu ý những gì khi chăm sóc những phụ nữ, từng là nạn nhân của bạo hành gia đình. Nhưng vấn đề cũng có thể được nhìn, theo chiều ngược lại.

“Nếu một phụ nữ đến khám với rất nhiều triệu chứng, sức khỏe suy yếu, có thể kèm theo trầm cảm hoặc lo âu, thì chúng ta cần tự hỏi: Những vấn đề này bắt nguồn từ nguyên nhân thể chất, hay trong gia đình đang có những căng thẳng nào đó? Và liệu trong đó có bạo hành gia đình hay không? Vì vậy, cần nhìn vấn đề từ cả hai phía. Dữ kiện của chúng tôi có thể cho thấy cả hai khía cạnh này, khi xem xét mối liên hệ phức tạp giữa nhiều tình trạng sức khỏe với bạo hành gia đình”, Deb Loxton.

Bà thường xuyên nói chuyện với những phụ nữ, từng là nạn nhân và nay đã vượt qua bạo hành. Họ cho biết các kết quả nghiên cứu giúp họ, cảm thấy những gì mình từng trải qua được nhìn nhận và thấu hiểu.

“Họ thực sự cảm kích khi nhìn thấy những biểu đồ cho thấy, sự suy giảm sức khỏe kéo dài qua nhiều thập niên, ở những phụ nữ từng sống trong hoàn cảnh bạo hành. Tôi nghĩ họ cũng trân trọng niềm hy vọng, đến từ một số khám phá khác của chúng tôi, đặc biệt là niềm hy vọng mà sự nâng đỡ của xã hội và những người chung quanh có thể mang lại. Khi chúng tôi đưa yếu tố hỗ trợ xã hội vào các mô hình nghiên cứu, khoảng cách về sức khỏe giữa các nhóm phụ nữ thu hẹp đáng kể. Nói cách khác, mức độ suy giảm sức khỏe ít nghiêm trọng hơn, ở những phụ nữ có người chung quanh nâng đỡ”, Deb Loxton.

Được biết sự nâng đỡ ấy có thể đến dưới nhiều hình thức.

“Đó có thể là sự hỗ trợ chính thức từ các cơ quan dịch vụ, hoặc không chính thức từ bạn bè và gia đình. Đôi khi chỉ là những việc rất đơn giản, như cung cấp một ít thông tin, giúp phương tiện di chuyển, hoặc một sự hỗ trợ lớn hơn như giúp nơi cư ngụ. Nhưng ngay cả những điều nhỏ nhặt như chịu khó lắng nghe, hay có một người để mình gọi điện thoại khi cảm thấy không khỏe, hoặc đơn giản chỉ muốn trò chuyện, cũng có thể tạo nên một ảnh hưởng vô cùng lớn và tích cực, đối với những phụ nữ từng sống trong hoàn cảnh bạo hành”, Deb Loxton.

Những kết quả này đã được trình lên chính phủ.

“Dữ kiện của chúng tôi không cho thấy, sức khỏe tự nhiên được cải thiện chỉ vì thời gian đã trôi qua, kể từ khi người phụ nữ trải qua bạo hành. Vì vậy, chúng tôi đã dành nhiều thời gian, để trình bày những kết quả này với chính phủ và nhấn mạnh rằng, hồi phục sau bạo hành là một tiến trình lâu dài. Nó không phải là điều chỉ xảy ra vào lúc bạo hành chấm dứt, hay trong khoảng thời gian ngay trước đó. Chuyện bạo hành có thể đã xảy ra cách đây hàng chục năm, nhưng vẫn tiếp tục gây ảnh hưởng rất tiêu cực. Do đó, khi nói đến việc giúp một người hồi phục sau bạo hành, chúng ta phải có cái nhìn lâu dài và bảo đảm các dịch vụ vẫn được cung cấp, không chỉ cho những phụ nữ mới trải qua bạo hành trong năm vừa qua, mà cả những người đã trải qua chuyện ấy cách đây 10 năm hoặc lâu hơn nữa”, Deb Loxton.

Một khám phá quan trọng khác của công trình nghiên cứu, liên quan đến bệnh lạc nội mạc tử cung.

Trước đây người ta cho rằng, căn bệnh này xảy ra ở khoảng một trong mười phụ nữ. Nhưng công trình nghiên cứu nhận thấy, tỷ lệ thực tế gần với một trong bảy phụ nữ hơn.

Việc mất quá nhiều thời gian, mới được chẩn đoán chính xác, là một vấn đề lớn.

Những khám phá từ công trình này, đã được sử dụng để soạn ra 6 câu hỏi nhằm giúp phát giác bệnh sớm hơn.

Giáo sư Mishra cho biết, phương pháp này được gọi là Simplified Adolescent Factors for Endometriosis, viết tắt là SAFE Score, tức một thang điểm đơn giản nhằm nhận diện các yếu tố, liên quan đến bệnh lạc nội mạc tử cung ở thiếu nữ.

“Đây là công trình mà chúng tôi đã công bố và hiện đang xúc tiến việc thực hiện, một số cuộc thử nghiệm lâm sàng. Nó được gọi là SAFE Score và chỉ gồm 6 câu hỏi. Nếu một thiếu nữ trả lời ‘có’ cho cả 6 câu, hoặc ‘có’ cho 4 trong 6 câu, thì em có nguy cơ rất cao, và có thể đang mắc bệnh lạc nội mạc tử cung. Điều chúng tôi muốn nói với các em là, hãy đến gặp bác sĩ và xin được giới thiệu đến bác sĩ chuyên môn”, Gita Mishra.

Khi công trình nghiên cứu bước sang thập niên thứ tư, thành phần phụ nữ tham gia cũng không ngừng thay đổi. Hiện nay, toán nghiên cứu đang cố gắng tuyển thêm phụ nữ, xuất thân từ Nam Á và Đông Nam Á.

“Điều xảy ra là vào năm 1996, khi ba nhóm chính được tuyển chọn, thành phần của họ nói chung đại diện khá đầy đủ, cho phụ nữ Úc vào thời điểm đó. Nhưng như chúng ta đều biết, trong hai hoặc ba thập niên vừa qua, đã có rất nhiều di dân đến Úc. Vì vậy, chúng tôi muốn tất cả phụ nữ trong cộng đồng, đều được tham gia. Một số rất đông phụ nữ từ Nam Á và Đông Nam Á đã di cư đến Úc, thế nhưng công trình nghiên cứu của chúng tôi trước đây, chưa phản ảnh được đầy đủ nhu cầu, sức khỏe và đời sống an lành của họ”, Gita Mishra.

Có một thành phần người tham gia đa dạng hơn, cũng có nghĩa là nếu một vấn đề sức khỏe xảy ra nhiều hơn, ở phụ nữ thuộc một nguồn gốc sắc tộc hoặc văn hóa nào đó, các nhà nghiên cứu có thể nhận diện vấn đề và đưa ra thông tin thích hợp, hướng trực tiếp đến cộng đồng ấy.

“Công trình của chúng tôi cho thấy, tuổi mãn kinh nói chung là khoảng 51 tuổi 9 tháng. Đó là con số tính cho tất cả mọi người. Nhưng nếu quí vị hỏi tôi tuổi mãn kinh của một phụ nữ di dân người Hoa chẳng hạn, hoặc một người có nguồn gốc Ấn Độ đang sinh sống tại Úc, thì đó lại là những dữ kiện mà hiện nay chúng tôi chưa có. Chính vì vậy công việc chúng tôi đang làm, là rất quan trọng, đó là tìm cách tiếp xúc và mời gọi phụ nữ thuộc nhiều nguồn gốc khác nhau tham gia, để tiếng nói của họ cũng được lắng nghe”, Gita Mishra.

Trong suốt 30 năm của công trình nghiên cứu, khoảng 1.200 nhà nghiên cứu đã sử dụng kho dữ kiện này.

“Chúng tôi tin rằng những dữ kiện ấy, tức 30 năm dữ kiện do phụ nữ cung cấp, cùng với các hồ sơ hành chánh về sức khỏe và những nguồn dữ kiện khác, thực sự là một tài sản quí báu của quốc gia”, Gita Mishra.

Khi những người trẻ nhất trong số các phụ nữ tham gia, nghiên cứu nay đã bước vào tuổi ngoài 30, các nhà nghiên cứu bắt đầu nghĩ đến việc, thành lập một nhóm thế hệ mới.

“Khoảng trống lớn hiện nay, là chúng ta chưa biết tình trạng sức khỏe của những phụ nữ từ 18 đến 23 tuổi ngày nay, hoặc trong vài năm tới sẽ như thế nào, nếu so với những phụ nữ cùng độ tuổi, thuộc các thế hệ trước. Có sự khác biệt nào hay không? Như chúng ta đều biết, thế hệ trẻ nhất này được sinh ra và lớn lên, trong một hoàn cảnh xã hội hoàn toàn khác, với Internet, mạng xã hội và nhiều điều khác. Đó là thế giới mà họ sinh ra và lớn lên. Vậy sức khỏe của họ hiện nay ra sao?”, Gita Mishra.

Đồng hành cùng chúng tôi tại SBS Vietnamese Facebook và cập nhật tin tức ở sbs.com.au/vietnamese

Chúng tôi cũng có mặt trên YouTube

Nghe SBS Tiếng Việt trên ứng dụng miễn phí SBS Audio, tải về từ App Store hay Google Play 


Latest podcast episodes

Follow SBS Vietnamese

Download our apps

Listen to our podcasts

Get the latest with our exclusive in-language podcasts on your favourite podcast apps.

Watch on SBS

SBS World News

Take a global view with Australia's most comprehensive world news service

Stream now