Watch FIFA World Cup 2026™ LIVE, FREE and EXCLUSIVE

Thuyền nhân: Bờ bên kia

Boat People The Other Shore Lead Image.jpg

The story documents the experiences of Vietnamese refugees and those who witnessed the humanitarian response across Southeast Asia. Between 1975 and 1995, nearly two million Vietnamese fled their country. UNHCR estimates that between 200,000 and 250,000 died at sea. More than 749,000 were permanently resettled. Source: SBS, Supplied / Images: Photo supplied from left: Dong Tran, Julie Ly, Sri Dean / Background: The Boat SBS Matt Huynh

2026 đánh dấu 51 năm kể từ khi Sài Gòn sụp đổ. Trong những năm sau đó, hàng trăm ngàn người Việt đã rời bỏ đất nước bằng đường biển, được biết đến với tên gọi “thuyền nhân”. Khắp Đông Nam Á, các trại tị nạn trở thành những nơi chờ đợi, bất định và sinh tồn.


Trải lòng trước những hồi tưởng của ba con người gắn với giai đoạn lịch sử đó.

  • Cô Julie Ly, người rời Việt Nam khi còn là thiếu niên, cảm nhận được tình người trên Palawan.
  • Ông Trần Đông, người đã mất nhiều năm tìm cách vượt biên trước khi đến Pulau Bidong.
  • Và bà Sri Dean, một nhân chứng người Indonesia tại đảo Galang.

“Ngày đầu tiên… tôi thấy một chiếc thuyền cập bến… hơn 120 người trên một chiếc thuyền nhỏ… có người không thể tự bước xuống… họ quá yếu. Tôi sẽ không bao giờ quên trải nghiệm đó. Con người đã đi qua những gian khổ như vậy… Nó chạm đến tận cùng của tính nhân bản.”

~Sri Dean~

Vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, Sài Gòn thất thủ.

Trong những năm sau đó, gần hai triệu người Việt rời bỏ đất nước — nhiều người bằng đường biển, trên những chiếc thuyền chật kín, chưa bao giờ được thiết kế để ra khơi. Họ được gọi là thuyền nhân.

Cuộc khủng hoảng lên đến đỉnh điểm vào năm 1979. Các chính phủ khắp Đông Nam Á phải ứng phó, lập nên các trại tạm cư tại Malaysia, Indonesia, Philippines, Thái Lan, Hồng Kông và nhiều nơi khác.

Với những người đến được nơi đó, sống sót chỉ mới là bắt đầu.

“Trong một thời gian dài… tôi không thể nói về chuyện đó… phải mất hai mươi năm… tôi mới có thể kể lại câu chuyện này.”

~Julie Ly~

Đó là Julie Ly, chị đến Úc khi còn là thiếu niên, sau khi vượt biển rời Việt Nam.

Nhưng hành trình của chị bắt đầu từ rất lâu trước khi nhìn thấy biển.

“Tôi lúc đó chỉ mới năm tuổi. Tôi sống ở Sài Gòn. Tôi còn nhớ rất rõ ba tôi — sau bữa cơm tối, ông đi xuống lầu và nói với mẹ tôi là ông nghe thấy tiếng súng từ xa. Đó là hai ngày trước ngày 30 tháng 4. Và rồi tôi thấy ba mẹ tôi gom đồ vào vài cái vali.”

“Tôi nhớ tiếng xe tăng, thấy xe tăng. Ai cũng biết — chế độ mới, mọi thứ thay đổi. Rồi ba tôi và các cậu tôi bị đưa đi trại cải tạo. Tôi như lớn lên chỉ sau một đêm, không còn thấy đàn ông trong gia đình. Xung quanh tôi chỉ còn bà ngoại, các dì, mẹ tôi — họ phải cố gắng xoay xở để sống. Lớn lên ở Việt Nam, tôi nghĩ, và tôi biết, là mình phải rời đi.”

~Julie Ly~

Với nhiều gia đình, ra đi không phải là một quyết định duy nhất.

Đó là nhiều năm chuẩn bị, thất bại, và nỗi sợ âm thầm.

“Tôi nhớ bà ngoại và tôi — lúc nào cũng có một cái túi sẵn, đồ khô và quần áo, chờ được gọi đi. Trong chín lần, có ba lần tôi thực sự rời khỏi nhà. Một lần bị bắt và tôi bị tù một tháng. Một lần khác lên được thuyền nhỏ rồi lại phải quay về — không còn gì ngoài bộ đồ đang mặc.”

~Julie Ly~

Rồi những ngày lênh đênh trên biển, phó thác cho số phận.

“Sau ba ngày trên biển, một người trên thuyền — lẽ ra phải đổ xăng vào máy, nhưng lại đổ nước ngọt. Máy ngừng. Và chúng tôi hết nước uống. Bốn mươi ba người trên thuyền. Chỉ nằm đó, chờ — thuyền trôi đi đâu thì trôi. Sau ngày thứ mười hai, bà ngoại tôi mất.”

~Julie Ly~

Tôi nằm đó ôm bà suốt ba ngày. Sau ba ngày, mấy chú nói phải để bà đi. Ba bốn tiếng sau, tôi thấy một cái xác trôi. Tôi gọi lên — có xác người kìa. Và có người nói… đó là bà.
Julie Ly

Julie đã kể lại trong nức nở. Câu chuyện của Julie không phải là hiếm. Đó là chuyện thường gặp, với người vượt biên.

Cao ủy Liên Hợp Quốc về người tị nạn UNHCR ước tính có từ 200.000 đến 250.000 người đã chết trên biển. Những người sống sót đến các trại — chờ xem có ai nhận họ hay không.

Vietnamese Boat People Archive - Pulau Bidong Refugee Camp 3.jpeg
Pulau Bidong Refugee Camp Source: Supplied / Vietnamese Boat People Archive

Ông Trần Đông nay đã gần tám mươi tuổi — một cựu thuyền nhân đến Pulau Bidong, Malaysia.

Vào cao điểm, hòn đảo chưa đến một dặm vuông này từng có gần bốn mươi ngàn người.

Hiện ông là đại diện của Văn Khố Thuyền Nhân.

“Tôi bắt đầu vượt biên vào khoảng năm 1978, 1979, cuộc hành trình, cuộc ra đi kéo dài tổng cộng tới mười năm, hơn hai chục lần. Mười năm đó là mười năm rất vất vả, rất gian khổ. ngủ bờ ngủ bụi. Hơn hai chục lần đều không may mắn, có những lần bị bắt dọc đường. Tổng cộng là năm năm tù vì vượt biên.”

~Trần Đông~

Với ông Đông, vượt biên không phải một chuyến đi. Đó là một thập niên không ngừng lại.

Cuối cùng, năm 1989, chuyến đi thành công. Ba ngày ba đêm đến được Malaysia. Sau mười năm gian khổ và quyết tâm đi tìm tự do, khi bước chân lên đảo Bidong, tôi cảm thấy nơi đó như một thiên đàng.
Trần Đông

"Thiên đàng ở đây không có nghĩa là có đầy đủ mọi thứ nhưng mình có được tự do, thứ hai là mình tới được một cái đầu cầu. Không còn là những ngày lo âu, vượt biên, sợ bị bắt, bị tù. Đó là những ngày mong đợi nhất.”

~Trần Đông~

Các trại là nơi trung chuyển — để xét duyệt, phân loại, và định đoạt tương lai. Nhưng quá trình đó diễn ra chậm.

Có người chờ vài tháng. Có người nhiều năm.

Vietnamese Boat People Archive - Galang Refugee Camp 3.jpeg
Galang Refugee Camp Source: Supplied / Vietnamese Boat People Archive

Sri Dean là thành viên của một nhóm quân đội Indonesia được cử đến đảo Galang năm 1981.

Bà chỉ ở đó năm tuần.

Nhưng những gì bà thấy theo bà suốt nhiều thập niên sau đó.

“Galang tách biệt khỏi các đảo khác, không có cộng đồng địa phương. Đảo đó chỉ dành cho người tị nạn — người Indonesia chỉ ở đó để bảo đảm an ninh. Người Việt sống trong doanh trại — không gian chỉ ngăn bằng vải. Nấu ăn ở ngoài. Đông đúc. Họ có thể đi lại, nhưng chỉ trong khu vực. Có người ở đó nhiều năm.”

~Sri Dean~

Các trại do Cao ủy Liên Hợp Quốc về người tị nạn UNHCR quản lý, chính phủ địa phương cung cấp đất và trật tự. Việc tái định cư là chuyện của nơi khác.

Trong cấu trúc đó, cuộc sống có nhịp điệu riêng — chờ đợi, và song song là cố gắng sống... như bình thường.

Cuộc sống không bình thường, vì bạn đang ở trong trại. Di chuyển bị giới hạn. Nhưng người ta vẫn… Điều tôi nhớ nhất là buổi sáng ra chợ, tôi ngửi thấy mùi bánh mì. Trong chợ còn có thể mua cả nữ trang.
Sri Dean

Ở Philippines, trại Palawan mang lại cảm giác gần với con người hơn.

“Palawan là một trong những trại tốt nhất. Có nhà lá, có phòng, có bếp, có phòng tắm. Có đồ ăn tươi để nấu. Có chiếu phim. Có trường học. Là trại mở — có cổng nhưng luôn mở. Có thể ra ngoài, chỉ đóng lúc mười giờ tối. Họ đối xử với chúng tôi như con người.”

~Julie Ly~

Nhưng dù điều kiện tốt đến đâu, cũng không thể xóa đi cảm giác không biết tương lai.

“Chỉ biết chờ. Sự chờ đợi… rất ám ảnh, dù đó là trại tốt. Có người chờ năm năm, bảy năm…”

~Julie Ly~

Trong sự bất định đó, cuộc sống vẫn tiếp diễn. Quan hệ được hình thành. Cộng đồng hình thành giữa hàng rào và sự chờ đợi.

“Đời sống ở trại tị nạn đan xen với nhau. không nơi nào hoàn toàn tích cực, cũng không nơi nào hoàn toàn tiêu cực. Đối với một số người thì khoảng thời gian đó rất cực khổ. nhưng với một số người khác, đó cũng là một khoảng thời gian đẹp, không thiếu thốn lắm, như cá nhân tôi. Vì thời gian chờ đợi như vậy, nên có những cuộc hôn nhân diễn ra. rồi sinh con trong trại tị nạn, rồi làm thủ tục để đi. Cũng có người chọn lấy người địa phương và ở lại luôn, ở Malaysia, Indonesia, Philippines, hoặc Thái Lan.”

~Trần Đông~

Vietnamese Boat People Archive - Palawan Refugee Camp 2.jpeg
Palawan Refugee Camp Source: Supplied / Vietnamese Boat People Archive

Với Sri, đứng ở phía bên kia hàng rào cũng là một bài học.

“Có khoảng cách giữa chúng tôi — không chỉ ngôn ngữ mà còn vị trí. Nhưng sâu bên trong, bạn luôn nhớ: ai cũng là con người. Và phải được tôn trọng. Hãy đặt mình vào vị trí của họ — bạn không biết họ đã trải qua điều gì. Nó khiến bạn khiêm nhường hơn.”

~Sri Dean~

Các trại đóng cửa dần trong thập niên 1990. Gần 750.000 người Việt được tái định cư trên thế giới.

Những gì còn lại trên các đảo là những ngôi mộ.

“Trong cuộc ra đi của người tị nạn, có những thành công nhưng cũng có những mất mát. Có người đến được, có người không. Có người mất anh em, có người mất cả gia đình. Nhưng tâm tình chung, kể cả những người không may mất đi, vẫn là mong những người còn lại đến nơi và có được cuộc sống an lành.”

~Trần Đông~

Gần năm mươi năm sau, câu chuyện thuyền nhân thường được kể bằng sự khổ đau.

Nhưng những người trải qua và sống sót còn mang theo điều khác.

Tôi lấy sức mạnh từ thế hệ cha mẹ, bà tôi — những gì họ đã trải qua sau 1975. Họ không oán trách. Họ tiếp tục sống. Tôi muốn thế hệ sau biết lịch sử — phần không được viết trong sách. Không phải để mang gánh nặng, mà để hiểu.
Julie Ly
Bây giờ có khoảng năm triệu người Việt sống khắp nơi trên thế giớ, nó mở ra một chương mới, một giai đoạn mới.
Trần Đông
Tôi luôn biết ơn. Tôi không giúp được nhiều. Nhưng tôi biết được tình người là gì.
Sri Dean

“Người tị nạn thật sự rất may mắn, vì hầu hết người dân địa phương đều dang tay đón nhận những người không quen biết, cho họ chung sống và giúp đỡ rất nhiệt tình.”

~Trần Đông~

“Người trên đảo rất tử tế.”

~Julie Ly~

“Tôi sẽ không bao giờ quên.”

~Sri Dean~

Truy cập sbs.com.au/vietnamese để cập nhật tin tức, các câu chuyện cộng đồng, và podcast mới nhất.

Nghe SBS Tiếng Việt mọi lúc trên ứng dụng SBS Audio, tải về từ App Store hay Google Play. 

Theo dõi SBS Vietnamese trên Facebook, InstagramYouTube để khám phá thêm.

Phần "Transcript" do Trí tuệ Nhân tạo AI tạo ra. Đọc thêm về việc SBS sử dụng AI: https://www.sbs.com.au/aboutus/sbs-guiding-principles-for-use-of-ai/

spk_0

Quý vị đang nghe SBS tiếng Việt, hãy vào SBS dot com dot AU slash Vietnamese để đọc thêm những câu chuyện thú vị khác.

spk_1

Ngày đầu tiên, tôi thấy một chiếc thuyền cập bến, hơn 120 người trên một chiếc thuyền nhỏ. Con người không thể tự bước xuống, họ quá yếu. Tôi sẽ không bao giờ quên trải nghiệm đó. Con người đã đi qua những gian khổ như vậy. Nó chạm đến tận cùng của tính nhân bản. You know, it

spk_2

touched the very core of humanity.

spk_3

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, Sài Gòn thất thủ.

spk_3

Trong những năm sau đó, gần 2 triệu người Việt rời bỏ đất nước, nhiều người bằng đường biển, trên những chiếc thuyền chật kín, chưa bao giờ được thiết kế để ra khơi. Họ được gọi là thuyền nhân.

spk_3

Cuộc khủng hoảng lên đến đỉnh điểm vào năm 1979. Các chính phủ khắp Đông Nam Á phải ứng phó, lập nên các trại tạm cư tại Malaysia, Indonesia, Philippines, Thái Lan, Hồng Kông và nhiều nơi khác. Với những người đến được nơi đó, sống sót chỉ là mới bắt đầu.

spk_3

For long

spk_4

term.

spk_4

I could not talk about it.

spk_4

It's taking me to be able to talk about it.

spk_5

Trong một thời gian dài tôi không thể nói chuyện đó phải mất 20 năm, tôi mới có thể kể lại câu chuyện này.

spk_3

Đó là Chu lì Lý, chỉ đến Úc khi còn là thiếu niên, sau khi vượt biên rời Việt Nam.

spk_3

Nhưng hành trình của chị đã bắt đầu từ rất lâu trước khi nhìn thấy biển.

spk_5

Lúc đó tôi chỉ mới 5 tuổi thôi, tôi sống ở Sài Gòn á, tôi còn nhớ rất rõ ba của tôi, sau bữa ăn tối thì ông đi xuống lầu, ông nói với mẹ của tôi là ông nghe thấy tiếng súng từ xa rồi. Đó là 2 ngày trước 30 tháng 4 rồi tôi thấy ba mẹ tôi gom đồ bỏ vào va li.

spk_5

And then I remember hearing and seeing Tôi nhớ tiếng xe tăng, rồi thấy cả xe tăng nữa, ai cũng biết là chế độ mới rồi, mọi thứ thay đổi, rồi ba tôi, rồi các cậu tôi bị đưa vào trại cải tạo, tôi như là lớn lên chỉ sau một đêm á, không còn thấy đàn ông trong gia đình nữa xung quanh tôi chỉ còn bà ngoại, các dì và mẹ tôi.

spk_5

Họ phải cố gắng xoay xở để sống lớn lên ở Việt Nam rồi tôi nghĩ tôi biết á là mình phải rời đi. I thought I knew

spk_4

that I have to leave Vietnam.

spk_3

Với nhiều gia đình, ra đi không phải là một quyết định dễ dàng, duy nhất. Đó là nhiều năm chuẩn bị, thất bại và nỗi sợ âm thầm.

spk_5

I remember my grandmother and myself we always have a prepared we tried fruits tôi nhớ bà ngoại và tôi lúc nào cũng có một cái túi sẵn ở trong nhà.

spk_5

đồ khô nè, quần áo nè, chỉ chờ được khỏi cái là đi liền. Và trong chín lần á thì có ba lần tôi thực sự rời khỏi nhà, một lần bị bắt và bị tù một tháng luôn, một lần khác á thì lên được thuyền nhỏ, rồi lại phải quay về, không còn gì ngoài bộ đồ đang mặc trên người á.

spk_4

myself and my grandmother.

spk_3

Rồi những ngày lênh đênh trên biển, phó thác cho số phận.

spk_4

After three days, one of

spk_5

the man he supposed to the Sau ba ngày trên biển thì một người trên thuyền lẽ ra là phải đổ xăng vào máy nhưng mà lại đổ nước ngọt, rồi máy ngừng, và chúng tôi hết nước uống luôn. 43 người trên thuyền chỉ nằm đó rồi chờ thuyền trôi đi đâu thì trôi. Sau ngày thứ 12 thì bà ngoại tôi mất. After

spk_4

the t

spk_4

My that's when my grandmother passed away.

spk_5

Tôi nằm đó tôi ôm bà tôi suốt 3 ngày luôn, rồi sau ba ngày thì mấy chú nói là phải để bà đi đi và 3-4 tiếng sau thì tôi thấy một cái xác trôi.

spk_5

gọi lên là có xác người kìa, mà có người nói đó là bà của tui.

spk_3

July đã kể lại trong nức nở. Câu chuyện của July không phải là hiếm, đó là chuyện thường gặp với người vượt biên. Cao ỷ Liên Hiệp Quốc về người tị nạn ước tính, có từ 200 đến 250 người đã chết trên biển. Những người sống sót đến các trại, chờ đợi xem có ai nhận họ hay không.

spk_3

Ông Trần Đông, năm nay đã gần 80 tuổi, một cụ thuyền nhân đến lâu Bi Đông, Malaysia.

spk_3

Lúc cao điểm, hòn đảo chưa đến một dặm vuông này, từng có gần 40.000 người. Hiện ông là đại diện của văn khố thuyền nhân.

spk_6

Thì à tôi bắt đầu à biên đó vào khoảng à năm 1978, 1979, cái cuộc hành trình, cái cuộc ra đi thì nó cũng kéo dài tổng cộng là tới 10 năm.

spk_6

kểnh trên 20 lần, và 10 năm đó là 10 năm đó là rất là rất là vất vả, rất là gian khổ, ngủ bờ ngủ bụi rồi kể trên 20 lần, đều đều không may mắn, có những lần mà bị bắt dọc đường mà tổng cộng như vậy là 5 năm tù vượt biên

spk_3

Với ông Đông, vượt biên không phải là một chuyến đi, đó là một thập niên không ngừng lại.

spk_6

Và cuối cùng đó thì đó là năm 1989 á thì 3 ngày 3 đêm thì tới tới được Malaysia. Sau 10 năm gian khổ và quyết tâm để mà đi đi tìm tự do đó, thì khi bước chân lên được trên đảo Bi Đông á thì tôi có cảm thấy là nơi đó là như là một cái thiên đạn. Thiên đạn ở đây không có nghĩa rằng cái chỗ đó là cái chỗ là là có được tất cả mọi thứ.

spk_6

Nhưng mình được một cái đó là thứ nhất đó là điểm tự do, thứ hai đó là mình tới được cái đầu cầu, không phải là là những ngày nghĩa là là lo âu, rồi nó đi vượt biên, rồi sở ủy bắt tù cái nổi thứ hai cho Tết, thì đó là những cái ngày ngh là mong đợi nhất.

spk_3

Các trại là nơi rung chuyển để xét duyệt, phân loại và định đoạt tương lai. Nhưng quá trình đó diễn ra chậm, có người chờ vài tháng, có người nhiều năm. Srian là thành viên của một nhóm quân đội Indonesia được cử đến đảo G Lăng năm 1981. Bà chỉ ở đó 5 tuần. Nhưng những gì bà thấy đã theo bà suốt nhiều thập niên sau đó.

spk_2

Kow Island is separated.

spk_1

Gia Lan tách biệt khỏi các đảo khác, không có cộng đồng địa phương. Đạo đó chỉ dành cho người tệ nạn. Người Indonesia chỉ ở đó để bảo đảm an ninh. Người Việt sống trong doanh trại, không gian chỉ ngăn bằng vải, nấu ăn ở ngoài rất đông đúc. Họ có thể đi lại nhưng chỉ trong khu vực, có người ở đó nhiều năm.

spk_2

And some people are years and years being there.

spk_3

Các trại do cao ủy Liên Hiệp Quốc về người tị nạn quản lý, chính phủ địa phương cung cấp đất và trật tự. Việc tái định cư là chuyện của nơi khác. Trong cấu trúc đó, cuộc sống có nhịp điệu riêng, chờ đợi, và bên cạnh đó là cố gắng sống như bình thường.

spk_1

Cuộc sống không bình thường, vì bạn đang ở trong trại, di chuyển thì bị giới hạn. Nhưng người ta vẫn điều tôi nhớ nhất là buổi sáng ra chợ, tôi ngửi thấy mùi bánh mì. Trong chợ còn có thể mua cả nửa trang.

spk_2

You can even you can't even buy jewelry.

spk_3

Ở Philippines, trại Balawan mang lại cảm giác gần với con người hơn.

spk_5

Balawan là một trong những trại tốt nhất, có nhà lá, có phòng, có bếp, có nhà tắm, có đồ ăn tươi để nấu nữa, có chiếu phim, có trường học là trại mở, có cổng nhưng mà luôn mở, có thể ra ngoài, chỉ đóng lúc 22:00 tối thôi, họ đối xử với chúng tôi như là con người.

spk_4

They treated like human.

spk_3

Nhưng dù điều kiện tốt đến đâu cũng không thể xóa đi cảm giác, không biết tương lai.

spk_4

All we have to do is just wait right chỉ

spk_5

biết chờ thôi, sự chờ đợi rất là ám ảnh dù đó là trẻ tốt nhưng mà có người chờ 5 năm rồi năm S people were waiting for like 5 years, 7 years.

spk_3

Trong sự bất định đó, cuộc sống vẫn tiếp diễn, quan hệ được hình thành, cộng đồng hình thành giữa hàng rào và sự chờ đợi.

spk_6

Cái đời sống ở trại tị nạn á thì ờ nó đang xèn với nhau và nghĩa là không nơi nào là nghĩa là tích cực hoàn toàn, không nơi nào là tức là tiêu cực hoàn toàn.

spk_6

Đấu vô số người thấy rằng cái khoảng thời gian đó đó là cực khổ, có một số người thì cũng xem cái khoảng thời gian đó cũng là đẹp, có nhiều kỷ niệm và nó cũng là không phải là thiếu thốn lắm đối với họ. Thí dụ như trong trường hợp cá nhân tôi thì là tôi xem nó là một trong những khoảng thời gian đẹp ở trong cái cuộc đời của tôi.

spk_6

Và vì thời gian chờ đợi như vậy đó, cho nên là nó nó có những cái cuộc hôn nhân xảy ra, đó, làm lễ thành hôn á, rồi sanh con, sinh cái là trong trại tị nạn, rồi cũng được làm thủ tục được đi, cũng có những người là tình nguyện là lấy người địa phương ở tại đó luôn, ở tại Malaysia hoặc là ở tại Indonesia hoặc là ở tại Philippines, tại Thái luôn và sống định dự ở tại đó.

spk_3

Với đứng ở phía bên kia hàng rào cũng là một bài học.

spk_1

Có khoảng cách giữa chúng tôi, không chỉ ngôn ngữ mà còn có vị trí, nhưng sâu bên trong bạn luôn nhớ ai cũng là con người, và phải được tôn trọng. Hãy đặt mình vào vị trí của họ. Bạn không biết họ đã trải qua điều gì, nó khiến bạn khiêm nhường hơn.

spk_3

Các trại đóng cửa dần trong thập niên 90, gần 750.000 người Việt được tái định cư trên thế giới. Những gì còn lại trên các đảo là những ngôi mộ.

spk_6

ở trong cái cái cuộc mà nó là ra đi của cái người tị nạn, thì nó cũng có những cái thành công và cũng có những cái nỗi mất mát, cũng có người đến được, có người không đến được.

spk_6

cũng có những cái người mà mất mát, anh em có người mất nghĩa là à cả gia đình luôn.

spk_6

Đó, nhưng mà tâm tình của những người mà mà đi mà ngay cả những cái người mà đi vượt biên không may mắn rồi chết thì cái tâm tình cuối cùng của họ cũng là mong ước cho những cái người mà mà còn lại đi đi đến nơi có được cái đời sống an lạc.

spk_3

Gần 50 năm sau, câu chuyện thuyền nhân thường được kể lại bằng sự khổ đau. Nhưng những người đã trải qua nó còn sống sót, mang theo nhiều điều khác.

spk_4

Iro.

spk_4

Strength and courage.

spk_5

Tôi lấy sức mạnh từ thế hệ cha mẹ bà tôi, những gì họ đã trải qua sau năm 1975, họ không oán trách, họ tiếp tục sống. Tôi muốn thế hệ sâu biết lịch sử, phần không được viết trong sách Việt Nam, không phải để mang gánh nặng đâu mà để hiểu. But I

spk_4

don't want them to burden about it but I want them to understand.

spk_6

Bây giờ là bệnh có khoảng chừng là 5 triệu người Việt sống các nơi ở trên thế giới, nó mở ra một chapter, một cái chương mới, một cái giai đoạn mới.

spk_1

Tôi luôn biết ơn, tôi không giúp được nhiều, nhưng tôi biết nhân tính là gì.

spk_6

ừ những người tị nạn, quả thật á là cũng may mắn là tại vì hầu hết những địa phương đó đều dang tay đón nhận người anh em không quen biết đến ở chung sống với họ, họ họ họ giúp đỡ rất rất rất là nhiệt tình.

spk_5

The people on the island. Người trên đảo rất là tử tế. I would

spk_2

never ever

spk_1

forget that. Tôi sẽ không bao giờ quên.

spk_0

Like, share, comment, hãy đồng hành cùng SBS tiếng Việt trên Facebook.

END OF TRANSCRIPT

Share

Follow SBS Vietnamese

Download our apps

Listen to our podcasts

Get the latest with our exclusive in-language podcasts on your favourite podcast apps.

Watch on SBS

SBS World News

Take a global view with Australia's most comprehensive world news service

Watch now