Watch FIFA World Cup 2026™

LIVE, FREE and EXCLUSIVE

Luật lệ quanh ta (51) "Hợp đồng bồ nhí” có giá trị pháp lý hay không?

vietnamese, mistress

"Hợp đồng bồ nhí” có giá trị pháp lý hay không? Source: Pixabay / SBS Vietnamese

Từ vụ hoa hậu Phuơng Nga bị truy tố về tội lừa đảo đại gia Cao Toàn Mỹ, Tổng Giám đốc CTCP tại Việt Nam đến vụ bà Madison kiện Ritchard Pratt, tỷ phú hãng bao bì Visy tại Úc. Hợp đồng bồ nhí vi phạm thuần phong mỹ tục và làm xâm hại đến ý nghĩa và đời sống hôn nhân nên không mang tính pháp lý ràng buộc tại Tòa.


Published

Updated

By Tuyết Lê

Source: SBS



Share this with family and friends


Từ vụ hoa hậu Phuơng Nga bị truy tố về tội lừa đảo đại gia Cao Toàn Mỹ, Tổng Giám đốc CTCP tại Việt Nam đến vụ bà Madison kiện Ritchard Pratt, tỷ phú hãng bao bì Visy tại Úc. Hợp đồng bồ nhí vi phạm thuần phong mỹ tục và làm xâm hại đến ý nghĩa và đời sống hôn nhân nên không mang tính pháp lý ràng buộc tại Tòa.


 Hợp đồng "bồ nhí" tại Việt Nam

Mấy hôm nay, dư luận xã hội Việt nam xôn xao về vụ hoa hậu Phuơng Nga bị truy tố về tội lừa đảo. Đại gia Cao Toàn Mỹ, Tổng Giám đốc CTCP Tin học Không gian ảo VinaCyber đồng thời là thành viên Hội đồng Sáng lập VinaGame, tố cáo bà Nga đã gạt lấy của ông 16.5 tỷ đồng (tức khoảng 100,000 Úc kim) qua một vài thương vụ mua bất động sản. Theo cáo trạng, bà Nga quen biết với ông Mỹ và nói với ông rằng bà có nhiều mối quan hệ có thể mua nhà với giá rẻ hơn so với thị trường. Khi bán lại sẽ kiếm được lời. Tin lời, ông Mỹ đưa cho bà Nga tổng cộng số tiền 16.5 tỷ đồng để mua một vài căn nhà. Sau sáu tháng không thấy bà mua được căn nhà nào mà không trả tiền lại cho mình, ông Mỹ đã làm đơn tố cáo bà chiếm đoạt số tiền trên với cơ quan điều tra.

Tuy nhiên, bà Nga biện bạch là bà không có phạm tội lừa đảo vì giữa ông Mỹ và bà đã có một hợp đồng "tình ái". Theo thông tin trên mạng, ông Mỹ bị cho là đã gửi điện thư đưa ra điều kiện hợp đồng mà theo đó, bà Nga phải "qua lại" với ông trong 7 năm. Nếu trước 7 năm mà bà bỏ ông thì phải hoàn trả đủ số tiền này.

Ông Mỹ đã phủ nhận ông không phải là tác giả của điện thư đó. Nhưng nếu lời khai của bà Ngà là đúng với sự thật thì bà không phạm tội hình sự gì cả. Tức là không có việc lừa đảo. Cùng lắm là bà không thi hành đúng điều kiện hợp đồng. Có nghĩa là ông Mỹ có thể tiến hành một vụ kiện dân sự đòi trả lại số tiền này dựa theo thỏa thuận giữa hai bên. Cơ sở của vụ kiện phải là hợp đồng "ăn bánh, trả tiền" trong 7 năm. Tiền thì ông đã trả đủ nhưng bánh thì ông chưa ăn đủ thời hạn. Vấn đề là tòa sẽ công nhận giá trị pháp lý của hợp đồng này hay không? Theo ý kiến của một số luật sư thì hợp đồng dưới hình thức này sẽ không được tòa công nhận với lý do vi phạm đạo đức và chế độ "một vợ, một chồng" dưới Luật Hôn Nhân Gia đình vì ông Mỹ đã có vợ. Nếu vậy thì ông Mỹ sẽ không thể nào thắng kiện.

Theo ý kiến của một số luật sư thì hợp đồng dưới hình thức này sẽ không được tòa công nhận với lý do vi phạm đạo đức và chế độ "một vợ, một chồng" dưới Luật Hôn Nhân Gia đình vì ông Mỹ đã có vợ. Nếu vậy thì ông Mỹ sẽ không thể nào thắng kiện.

Không biết có phải vì vậy mà ông đã chọn không tiến kiện về mặt dân sự mà quyết truy tố về mặt hình sự hay không?

Những "Hợp đồng bồ nhí" nổi tiếng tại Úc.

Vụ kiện theo thể loại hợp đồng nay cũng đã từng xảy ra tại Úc. Vào năm 2011, bà Madison Ashton kiện bà Jeanne Pratt là vợ và người thi hành di chúc của tỷ phú Richard Pratt đòi bồi thường 10 triệu Úc kim vì ông đã không thi hành đúng cam kết trong một hợp đồng "bồ nhí".

Richard Pratt từng là người giàu nhất nước Úc với gia tài trị giá hơn 5 tỷ Úc kim. Ông làm chủ công ty Visy sản xuất thùng giấy có trụ sở tại Melbourne. Nhưng ông thường xuyên ghé Sydney vì vấn đề làm ăn. Ông qua đời vào năm 2009 thọ 74 tuổi. Vào năm 1990, ông gặp và quen với bà Shari-Lea Hitchcock tại Sydney. Lúc đó, Richard đã 56 tuổi, có vợ và 4 đứa con trưởng thành. Còn Shari-Lea đang là một cô sinh viên luật 21 tuổi. Shari-Lea chấp nhận làm vợ bé của Richard và hạ sinh một đứa con gái đặt tên Paula vào năm 1998.

Jeanne Pratt, vợ của Richard cũng như gia đình biết rõ và chấp nhận mối quan hệ này. Trước khi qua đời, Richard có làm di chúc và để lại 23 triệu cho Paula. Shari-Lie cũng có phần nhưng cho là không xứng với vai vế vợ nhỏ nên đã nộp đơn kiện với tòa. Jeanne đồng ý thương lượng và sau cùng hai bên đạt thỏa thuận nhưng Shari-Lie cam kết là phải bảo mật chi tiết.

Trở lại vụ kiện của Madison Ashton, bà Madison là một gái bao cao cấp chuyên nghiệp. Tùy theo hạng khách, thù lao của bà có thể lên tới $1,500 một giờ. Bà có phục vụ cho ông Richard từ năm 1995 tới 1997 những lần ông ghé Sydney. Sau đó bà lấy chồng nhưng hôn nhân đổ vỡ và bà trở lại nghề cũ. Vào tháng 10 năm 2003, bà gặp lại Richard và ông cho biết là ông rất cô độc vì Shari-lie đã bỏ ông. Ông cũng nói là "chức vụ" vợ bé (mistress position) đang bỏ trống và đề nghị Madison thế vào. Đổi lại, ông sẽ dựng ra ủy tín thác (trust) cho hai đứa con nhỏ của bà mỗi đứa 2.5 triệu. Ủy tín thác là một hình thức giữ và đầu tư giùm tiền cho hai đứa bé cho tới khi chúng tới tuổi thành niên có thể thừa hưởng. Về phần Madison thì ông sẽ trả lương mỗi năm $500,000. Ngoài ra, ông cũng sẽ bao $36,000 cho tiền thuê nhà và $30,000 chi phí đi lại hàng năm. Tổng cộng là $566,000 một năm.

Ông đặt điều kiện là bà phải bỏ nghề gái bao và có mặt phục vụ cho ông mỗi khi ông có mặt tại Sydney thông thường là vào mỗi thứ ba và thứ bảy hàng tuần. Nhưng theo lời khai của Madison thì ông không đặt điều kiện "độc quyền". Có nghĩa là Madison vẫn có quyền quan hệ tình dục với những người khác trong những ngày ông không có mặt tại Sydney. Bằng chứng là vào tháng 2 năm 2004, tức chỉ vài tháng sau khi có thỏa thuận với Richard, Madison đã bắt đầu có quan hệ tình dục với Sean Bowman là một cận vệ của Richard với sự chấp thuận của Richard.

Từ tháng 2 đến tháng 10 năm 2004, Richard trả cho Madison tổng cộng là $330,000. Nhưng tới tháng 12 năm 2004 thì Richard cho Madison biết là ông đã hàn gắn và trở về với Shari-Lea. Lý do chính là vì Paula. Ông thương con và muốn có nhiều cơ hội ở gần con. Madison liền hỏi "còn chuyện của chúng mình thì sao?". Richard trả lời "Em đừng lo. Anh vẫn thương em và sẽ làm đúng những gì đã hứa. Anh sẽ tiếp tục cung cấp tài chánh cho em vì anh là Richard Pratt, một trong những người giàu nhất nước Úc".

"Em đừng lo. Anh vẫn thương em và sẽ làm đúng những gì đã hứa. Anh sẽ tiếp tục cung cấp tài chánh cho em vì anh là Richard Pratt, một trong những người giàu nhất nước Úc". Richard Pratt

Vào ngày 19/1/2005, Madison fax một lá thư cho Richard nhắc lại thỏa thuận giữa hai bên gồm có ủy tín thác cho hai đứa con trị giá 5 triệu, tiền mướn nhà $36,000 và di chuyển $30,000 mỗi năm. Nhưng bà không nhắc tới số tiền lương $500,000. Theo lời khai của Madison, bà đã nói chuyện điện thoại với Richard sau đó và hỏi là bà có nên fax một lá thư khác để thêm phần $500,000 hay không? Richard trả lời là không cần vì ông đã ghi xuống con số này. Ông cũng hứa là sẽ thanh toán đầy đủ.

Phán quyết của Tòa

Trong phán quyết ban hành vào ngày 16/1/2012, Thẩm Phán Brereton của Tòa Thượng Thẩm NSW phán rằng các điều khoản thỏa thuận giữa hai bên có mức độ đầy đủ và rõ ràng để tạo thành hợp đồng nhưng kết luận rằng những lời hứa của Richard không có ý tạo ra quan hệ pháp lý có tính ràng buộc. Thông thường thì thỏa thuận trong gia đình không có ý nghĩa ràng buộc trừ khi có bằng chứng ngược lại. Ví dụ như trong vụ kiện Balfour v Balfour [1919], tòa phán rằng lời hứa của ông chồng chu cấp cho bà vợ trong 30 tháng trong lúc họ sống xa nhau không có giá trị ràng buộc. Tương tự như vậy, bà vợ không thể thưa kiện khi ông chồng nuốt lời hứa là sẽ cho tiền mua sắm quần áo (Cohen v Cohen 1929).

Trong trường hợp này, tòa cho rằng điểm chính của thỏa thuận là Madison từ bỏ nghề gái bao và làm "bồ nhí" cho Richard. Tòa không tin là Richard không đòi hỏi điều kiện "độc quyền". Có thể là quan hệ của họ đã chấm dứt vào tháng 4 năm 2004 khi Madison bắt đầu quan hệ với Sean Bowman. Cũng có thể là sau khi biết Madison "ăn vụng" với Bowman, Richard mới quay trở về với Shari-lea. Nhưng ông vẫn tiếp tục trả lương cho Madison. Dù sao đi nữa, nếu Madison vi phạm hợp đồng và trở lại nghề gái bao thì không có cách nào để Richard xin án lệnh của tòa ngăn cản điều đó.

Cho dù hai bên có ý định tạo ra quan hệ pháp lý đi nữa thì tòa cũng sẽ không thi hành lời hứa của Richard vì hợp đồng loại này vi phạm thuần phong mỹ tục và làm xâm hại đến ý nghĩa và đời sống hôn nhân. Vú dụ như trong vụ kiện Girady v Richardson (1793), tòa phán rằng hợp đồng cho kỹ nữ thuê phòng hành nghề không có giá trị pháp lý. Tương tự như vậy, hợp đồng cho kỹ nữ thuê xe ngựa di chuyển trong lúc hành nghề là bất hợp pháp (Pearce v Brooks 1866). Trong vụ kiện Upfill v Wright [1911], nguyên đơn cho một cô vợ bé thuê nhà trong thời hạn 3 năm. Nguyên đơn biết bị đơn là vợ bé vì ông chồng là người đứng ra trả tiền thuê nhà. Khi ông chồng ngưng trả thì nguyên đơn kiện bà vợ bé. Tòa phán rằng nguyên đơn không có quyền kiện với lý do là hợp đồng thuê mướn này không có giá trị pháp lý vì mục đích của hợp đồng là tạo điều kiện cho một người đàn ông ngoại tình với một người đàn bà khác trái với đạo lý gia đình.

Tư tưởng xã hội đã thay đổi rất nhiều và ngày nay, quan hệ tình dục ngoài hôn nhân không còn được coi như là trái với luân thường đạo lý nữa. Trong vụ kiện Andrews v Parker [1973] tại Queensland, hai bên sống chung với nhau như vợ chồng (de facto). Nguyên đơn đồng ý sang tên nhà cho bị đơn với điều kiện là nếu bị đơn quay về với ông chồng cũ có giá thú bị đơn sẽ trả nhà lại hoặc trả bằng tiền cho nguyên đơn. Sau đó, bị đơn hàn gắn với ông chồng cũ và đồng ý trả $4,000 cho nguyên đơn theo đúng thỏa thuận ban đầu. Nhưng sau khi nguyên đơn dọn ra khỏi nhà thì bà lại nuốt lời không chịu trả. Nguyên đơn tiến kiện và thành công. Tòa phán rằng thỏa thuận giữa hai bên không dẫn đến vấn nạn ngoại tình vì cả hai đã ngoại tình với nhau trước đó rồi. Hơn nữa, luật pháp đã được điều chỉnh để công nhận thực tế là ngày càng có nhiều cặp vợ chồng sống chung với nhau ngoài giá thú

Tuy nhiên, Thẩm Phán Brereton cho rằng dựa vào án lệ đã được thành lập, hợp đồng cung cấp dịch vụ tình dục là trái với đạo đức và sẽ không được tòa công nhận.

Hợp đồng giữa Madison và Richard thuộc về dạng đó, khác với quan hệ của Richard và Shari-lea. Có nghĩa là theo thỏa thuận giữa hai bên thì Madison chỉ cung cấp dịch vụ tình dục cho Richard cho dù dưới hình thức độc quyền hay không độc quyền. Đó là một mối quan hệ hoàn toàn mang tính xác thịt hoặc nhục dục. Không có phương diện tình cảm hoặc xã hội. Trong khi đó, Shari-lea trong vai vợ nhỏ được gia đình cả hai bên gồm có cha mẹ của Shari-lea ghi nhận. Hay nói một cách khác, hợp đồng vợ bé thì có nhiều cơ hội được tòa chấp nhận còn hợp đồng bồ nhí thì không có giá trị pháp lý.


Latest podcast episodes

Follow SBS Vietnamese

Download our apps

Listen to our podcasts

Get the latest with our exclusive in-language podcasts on your favourite podcast apps.

Watch on SBS

SBS World News

Take a global view with Australia's most comprehensive world news service

Watch now